Định hướng nghề nghiệp 4.0 Xu hướng chọn nghề hiện nay
Hue coi dat thom

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thanh
Ngày gửi: 03h:04' 19-04-2024
Dung lượng: 19.0 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thanh
Ngày gửi: 03h:04' 19-04-2024
Dung lượng: 19.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
■
DX.037801
IỈ3
N HÀ X U Ấ T BẢN LAO Đ Ộ N tí
Huế - Coi đát therm
Đã có nhiều nmrời giảng giái rằng Huế là từ Thuận
Hóa mà nên. Mới nghe tưởng là có lý. Bởi lẽ ở thời thịnh
Nguyền người ta buộc phải kiêng một số tên húy. Ví như
"hoa” đọc trại thành “ huê” là do bà thân mẫu cùa nhà vua
Nguyễn Hiến Tổ (Thiệu Trị) có tên là Hoa. N hưng chi trại
riêng chữ Hoa thành Huê, Thanh Hoa thành Thanh Hóa
mà thôi. Không phải tất cả oa đều thành uê, óa đều thành
uế hết.
Thì đó, vẫn còn Thuận Hóa, Thiệu Hóa, Tuyên Hóa,
Minh Hóa, Hướng Hóa, Lạc Hóa, Mộc Hóa, Quy Hóa...
Chẳng có địa danh “ Hóa” đơn tiết nào để biến thành “ Huế”
đơn tiết. Nếu nói rằng Huế từ Thuận Hóa mà nên thì phải
gọi là Thuận Huế mới phải. Xưa nay chưa có sách nào ghi
Thuận Huế mà chi Huế không thôi. Vả lại khi một từ hoặc
một cặp từ biến âm thi từ căn bị triệt tiêu. Cho đến nay
Thuận Hóa vẫn tồn tại đồng hành với Huế đó sao. Sự biến
âm của một địa danh phải tự thân và tự tại. Thanh Hoa
thành Thanh Hóa ngay trên địa bàn trước sau vẫn của tỉnh
đó. Bình Thái thành Binh Thới cũng vậy. Đổi tên nhung
không đối địa bàn và phạm vi vốn dĩ. Thuận Hóa là địa
danh kcp ghép hai cháu Tỉuiận và Hóa mà nèn. Thuận từ
châu Ô. I lóa từ châu Rí.
"Hui châu ỏ Rí
V U Ô H ỊỊ
ngàn dặm
Một gái thuyền quyên cùa mấy m ư ơ i”.
(Hoàng Cao Khải)
Thuận Hóa vuông ngàn dặm mới ôm gọn nửa phía
nam tỉnh Quảntỉ Trị. toàn bộ tỉnh Thừa Thiên Huế và nừa
phía bắc tỉnh Quảng Nam. Có khi còn rộng hơn gồm hai
phủ Tân Binh (Quảng Bình), Triệu Phong (Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế, Đà Nang). Sách “Ô Châu Cận Lục” do
Dương Văn An nhuận sẳc viết về vùng đất đó. Huế chưa
bao giờ rộng đến thế. Thuận Hóa chưa một lần được coi là
Thuận Huế. Cũng vậy, Hóa Châu chưa một lần được gọi là
Huế Châu. Chúng tôi nghĩ rằng Huế là Huế mà Thuận Hóa
hay Hóa Châu cũng như Thừa Thiên Huế với Huế ngày
nay thôi. Hơn nừa Huế là một từ đơn. Hóa Châu hay Thuận
Hóa là một từ kép. Từ đơn thông thường cao tuổi hơn từ
kép Hán Việt bởi bóng dáng bản địa còn đậm đà. Kẻ Huế
vẫn được Linh mục Alexandre de Rhodes nói đến khi xứ
Thuận Hóa đã ra đời được 334 năm và đang tồn tại dưới
danh nghĩa Thừa tuyên Thuận Hóa ở xứ Đàng Trong.
Thuận Hóa không bị triệt tiêu khi biến danh thì Huế càng
không thể do Thuận Hóa mà thành.
Kẻ Huế có vẻ đầu nguồn cùa ngôn ngữ Việt hơn và
biết đâu đó lại là “con nòi cùa giống”. Mặt khác xứ Thuận,
xứ Hóa là một cặp song sinh từ Ô, Rí. Sau năm 1306, Ô
được đổi thành Thuận, Rí được đổi thành Hóa. Muốn Hóa
(tức phát triển) điều kiện tiên quyết là phải Thuận. Địa
danh này ra đời là ánh phản ước vọng cùa lớp người Việt
đầu thế kỷ XIV. Thuận Hóa lúc đó có hai phủ Tân Bình và
Triệu 1'hotm. Tân Binh ve sau Chúa Tiên Nguyễn Hoàng
đối thành Quàng Bình. Triệu Phong bao uồm Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế. thành phố Đà Nằng và huvện Diện Bàn
ttuiộc tỉnh Quàng Nam nuày nay. Địa danh Huế chưa bao
giờ nhận vậy.
Theo Podharma, “ huế" là tienu Chăm như chừ
“thơm” của tiếng Việt. Huế = Thơm. Kẻ Huế = Kẻ Thom.
Như vậy là về ngừ nghĩa huế hoàn toàn khônu có nội hàm
cùa hóa. Huế không phải từ Thuận Hóa thành.
Và lại, nêu bảo rằng Huế từ Hóa Châu mà có thì
trước tiên dân làng Thành Trung (trung tâm thành Hóa
Châu), dân xã Ọuảng Thành, dân huyện Quảng Điền, được
tự minh nhận là Huế trước. Nhưng họ còn phải đímg từ xa
mà nhìn Huế. Với họ, Huế là những dãy phố san sát hai
bên bờ sông Hương phía trên thương cảng Thanh Hà - Bao
Vinh. Nơi đó một thuở là thù phù. Một thuở là kinh đô.
Kinh đô Huế là kinh đô Phú Xuân. Kinh đô Phú
Xuân bẳt nguồn từ thù phù Kim Long - Phước Yên - Ái
Tử. Đó là mạch phát từ Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng né
tránh Hóa Châu là né tránh mổi hiểm nguy bất ngờ từ phía
Trịnh. Các thế hệ chúa Nguyễn bỏ mặc Hóa Châu bởi một
thời quan lại do chúa Trịnh phái vào cai quản ờ đó. Hóa
Châu tàn tạ làm sao mà được hóa thân thành Huế với thời
Niỉuyễn. Và, cho đến nay địa danh Hóa Châu vẫn còn. Như
thế là Châu thành Huế không giành Châu thành Hóa cho
mình. Huế là Huế từ đầu vậy.
Cũna có khi do nhu cầu xác định địa bàn mang tính
đặc thù cần sự thuận ngôn tươiiíỉ ứng, Huế được nâim lên
như một đại diện vùne nam giữa đèo Ngang và đèo Hái
Vân. Đó là Thanh, Nghệ, Huế, Quàntỉ. v ề mặt địa giới
Thanh cho tỉnh Thanh Hóa. Nghệ cho cả Nghệ An và llà
Tĩnh. Quàng cho cả Quảng Nam và Quảng Ngãi. Huế chưa
bao giờ ôm tất cả địa vực Bình. Trị, Thiên, Dà Nẳng như
Thuận Hóa một thời. Huế khôny từ Thuận Hóa mà nên
vậy. Nhung về mặt phong thổ, địa bàn, nguồn gốc dân cư,
tâm thức, tính cách... Huế trong chuỗi Thanh - Nghệ - Huế
- Quảng xin được coi là một vùnu đặc trmig về lĩnh vực địa
văn hóa mà thôi.
Nhừiig năm đầu Công nguyên, Huế có lẽ là Lô Dung
- một trong năm huyện cùa quận Nhật Nam (Tây Quyển,
Chu Ngô, Tỷ Cảnh, Lô Dung, Tượng Lâm). Quận Nhật
Nam bị nhà Hán đô hộ. Văn minh Trung Hoa bất đầu gia
nhập vào bộ phận dân chúng vốn là chủ nhân cùa văn hóa
Sa Huỳnh có sự xen cư với chù nhân văn hóa Dông Sơn
mà trước đó vốn đã tìm được ánh sáng cùa nền văn minh
Án Độ cổ đại. Sự pha trộn như thế làm nên sắc thái riêng
cùa cộng đồng dân cư bẳc Chăm pa. Cuối thế kỷ thứ hai
sau Công nguyên, nhân dân huyện Tượng Lâm (Quảng
Nam, Quảng Ngãi) nổi lên chổng quan quân nhà Hán với
sự hưởng ứng không chỉ của các huyện thuộc quận Nhật
Nam mà còn của quận Cửu Chân (chủ yếu là An Tĩnh).
Nhà nước Lâm Ẩp ra đời nghiêng hẳn về phía Ần Độ bởi
tính thuần lương vô tư và Irong sáng cùa nền văn minh này.
Án Dộ giáo, Bà La Môn giáo, ỈMiật giáo phát sáng. Vươnu
triều Gangaraja ra đời chọn Trà Kiệu làm kinh đô khai
sánu. ỉ)ó là Sinhapura. Sinha là sư tứ. Pura là thành phổ.
I hành phố mang tên sư tứ phái chăng là khát vọng về sự
tim kiếm sức mạnh đề tự cường trước nạn bành trướng cùa
các thế lực phươim Bắc luôn luôn là nguy cơ. Tín ngưỡng
Án Độ là cứu cánh làm chồ dựa cho vương triều mới mà
Phật giáo đóng vai trò tích cực để bình ổn xã hội sau vài ba
trăm nãm bị dô hộ. Tron” bối cảnh đó Nam Chăm thảnh
thơi đi với Án Độ giáo, Bà La Môn giáo, tự lập mà lớn lên.
Băc Chăm và Nam Chăm hằn thành những nét dị biệt trên
nền tươna đồníỉ vì lẽ đó.
Năm 446 Thứ sử Giao Châu là Đàn Hòa Chi của nhà
Tiền Tống đánh chiếm Lâm Áp. Kinh đô Sinhapura bị
cướp pliá nặng nề. 159 năm sau, kinh đô Sư tử này lại bị
Lưu Phương của nhà Tùy tàn phá cướp giật. Vương triều
Gangaraja hai lần gặp đại nạn từ phương Bắc, nên tan nát
và suy yếu, khó phục hung. Trong khi đó phía nam yên ổn
hơn. Án Độ giáo và Bà La Môn giáo mặc sức lan tỏa ảnh
hưởng và chi phối mọi sinh hoạt xã hội. Sức mạnh và sự
phát triền yên lành từ phía nam trở thành lực hấp dẫn.
Vương triều Panduranga ra đời, kinh đô Chăm pa chuyển
về phía trong lấy Po Naga làm trung tâm quyền lực. Po
Naga tôn thò nữ thần Uma - vợ của thần Siva chính là tôn
thờ Ấn Độ giáo.
Sang thế kỷ thứ VIII tình hình xã hội phương Bắc từ
Tùy. Đườnu đến Lươnt». Tấn không yên. nhân dân bị trị
các quận Giao Chi, Cửu Chân liên tiếp nồi dậy. bắc Chăm
v ớ i dịa bàn cư trú rộnu. dân cư đông, ruộntỉ đồng màu mỡ
lại bình yên dưới bóng Bồ Đe, tái tạo nên lực hấp dẫn.
Vương triều mới có lẽ của Inđravacman li chiếm ưu thế.
Kinh đô Chăm pa lại chuyển ra bấc Chăm. Đồni» Dươntỉ
nay thuộc xã Bình Định, huyện Thăng Bình, tinh Quảng
Nam được lựa chọn de xây dựng kinh đô ánh sáng chiếu
bởi hào quang. Đó là Indrapura. Indra là thần ánh sáng tức
hào quang. Pura là thành phố. Thành phố của thần ánh sáng
- hào quang chính là thành phố cùa trung tâm F^hật giáo.
Bởi chỉ có chư vị Phật, chư vị Bồ tát mới phát sáng hào
quang. Indrapura - Đồng Dương cách Sinhapura - Trà Kiệu
kinh đô cũ 15km về phía đông nam là kinh đô Vương triều
đồng thời là kinh đô Phật giáo.
Huế của Ô, cùa Rí, cùa Lý rồi cùa Hóa nằm trong
vòng tỏa sáng cùa ánh hào quang Indrapura - Đồng Dương.
Vương triều Dồng Dương đề cao thần Inđra như là sự dung
hòa tín ngưỡng Ân Độ để cổ xúy và phát huy ảnh hưởng
cùa Phật giáo trên toàn Vương quốc. Po Naga vì thế không
còn chiếm vị trí trung tâm và vai trò cùa Nữ thần Uma, vợ
cùa thần Siva tùng được tôn thờ trong các đền tháp Po
Naga tượng trung cho quyền lực nhà vua cũng giảm thiêng
liêng nên phai nhạt rồi tàn tạ dần. Từ đó chùa tháp thờ Phật
uy nghi lộng lẫy không chi ở Đồng Dương mà hầu như
được cồ xúy trên toàn bộ địa bàn bắc Chăm pa. Mối quan
hệ giữa hoàng gia và hàng ngũ giáo phẩm gắn bó mật thiết
hơn. Có thể nói không nhầm, với Vương triều Đồng
Dương, Phật giáo cũng đã lên ngôi.
Theo Cố Giáo sư Trần Ọuổc Vượng thì Phong Nha
(Quàng Bình) một thời là thánh dịa Phật giáo. Trà Kiệu
10
phía trong. Trà Kệ phía ngoài bị ngăn bởi dãy Ngãi Lãnh
về địa thế nhưng không ngăn hai vùng dân cư vốn là anh
em một nhà về mặt tâm linh. Huế nằm giữa Đồng Dương Phonc Nha, nằm giữa môi trường tín ngưỡng đó lẽ nào
không thấm đẫm màu thiên.
Đọc những tranu viết cùa Giáo sư Lương Ninh về
bia An Thái (Quảnu Nam) thời Bơ - ha - đra - vác - man III
có đề cập đến việc xây dựiig chùa cho Nauapuspa ờ Đồng
Dươnsỉ, rồi liên hệ với địa danh Long Thọ bên cạnh Thành
Lồi (có thể là thành Phật Thệ ở Huế), tôi cứ ngờ ngợ dưòmg
như có mối liên hệ nào đó về hai vùng dân cư trong ngoài
đèo Hải Vân. Long Thọ Bồ tát chính là Nagarjunas. Thành
Lồi và Long Thọ nằm ờ bờ nam hữu ngạn sông Hương.
Chùa Thiên Mụ trên đồi Hà Khê, mà thuở khai sơn mang
tên là Thiên Mỗ, trước đó có lề là nền đền tháp Po Naga
thờ Mẹ Xứ sở, đối ngạn lập thành một cụm trung tâm đứng
giữa hệ quy chiếu Núi - Biển là Vân Trạch Hòa - Thiên Mụ
- Thành Lồi - Linh Thái (cửa Tư Hiền).
N h ư vậy là chùa Thiên Mỗ đã đứng lên trên nền đền
tháp Po Naga cổ một thời thờ N ữ thần Uma mà cư dân bản
địa coi là Mẹ Xứ sở. Po Naga phai mờ. Đền tháp cùa Bà,
thờ vợ thần Siva Ẩn Độ giáo trở thành chùa cùa Mụ, thờ
chư vị Phật, chư vị Bồ tát là quá trình chuyển giao Nam Bắc, chuyển giao Chăm - Việt. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng
không phải là người khai sơn mà chi là người biết thừa kế
tái thiết. Tái thiết chùa nhung không tái thiết tên chùa.
Thiên Mụ cũng là ĩhiên Mỗ. Suy cho cùng thì vẫn bảo lưu
tư tưởng ihờ Mẹ Xứ sờ đó thôi.
Vân Trạch Uòa là cụm tháp nàm trên vùng đất có lẽ
là thánh địa mà chúng ta chi mới nhìn thấy bệ thờ cũng đú
nhận ra các tư thế đành lễ, tôi nghĩ là cùa các chư vị Phật,
chư vị Bồ lát cùng các vị thần Brama, Visnu, Siva. Có lẽ
người xưa đã từng dung hợp tín ngưỡng Ản Độ nên đã coi
vùng thánh địa này là cõi “Tây Thiên” - Su Mê ru chăng?
Và biết đâu, do một sự lình cờ ngẫu nhiên khi mặt trời tụt
xuống phía sau dãy núi nay có tên là Kim Phụng - Thọ Sơn
đã bẳn lên những tia hào quang rẽ quạt làm người ta liên
tường đến miền cực lạc và thế là tên Thất Thế Giới Sơn Su Mê ru được gán cho dãy núi này. Đã có Su Mê ru
đương nhiên phải có Hương Thủy Hải. Dòng sông trong
xanh thanh bình sâu lẳng nằm dưới chân phía đông Thất
Thế Giới nghiễm nhiên được mang tên sông Huế, sông
Thom như là Biển Nước Thơm (Hương Thủy Hải) trong
kinh Phật. Hương Thủy Hải trên thực tế là dòng sông nên
trong văn tự sinh hoạt đời thường được gọi là Hương Thủy
gianỵ. Hương Thủy giang rút gọn thành Hươntỉ Giang từ lẽ
đó. Tôi không ngã về phía lý giái cảm nhận ràng sở dĩ có
tên sông Hương vì mùi thơm của hoa thạch xương bồ hay
cây hương huyền thoại của chúa Tiên Nguyễn Hoàng bên
bờ sông trước chùa Thiên Mụ. Thạch xương bồ có chăng là
trên A Roằng, A Đớt mà cây hương huyền thoại thì mãi
đến năm Tân Sửu, 1601 mới thành chuyện. Địa danh Huế
lại ra đời từ thuở sinh thành, ỉluế là Thơm, là Hương vậy.
Huế khôníi từ Thuận Hóa mà nên bời cả lẽ này nữa.
Diều lôi muốn “ nghĩ về xứ Huế xa xưa” chủ yểu là
nghĩ ve vị thế địa lịch sử và địa văn hóa đã làm nên địa
danh này.
12
Bừ biển nước ta có hai vành ciiim lớn. L.ồi và lõm.
Cung lõm từ Mórm Cái. địa đầu phía bắc tinh Quàng Ninh
vào đến mũi Chân Mây, mút cuối cùa tinh Thừa Thiên
Huế. Cung lồi từ mũi Chân Mây xuống tận mũi Cà Mau.
Cune lõm như ôm một phần tây bộ Thái íỉình Dương.
I'rong giới hạn vòim cung này từ đảo c ồ n c ỏ ra đến đảo
Cô Tô (ngoài bi én), từ Tiên Yên vào tận Hương Trà (trên
đất liền) rải rác xuất hiện dấu vết các lớp người tiền sử và
sơ sừ xa xưa. Huế nằm trong vòng cung loài người trên đất
Việt. Huế cũng có một thời Sơn Vi (hậu kỳ dồ đá cũ) hoặc
cùng thời Sơn Vi (2-2,5 vạn năm trước). Huế có Sa Huỳnh
lại có cà Dông Sơn mà các vùng lãnh thô của nước ta
không phải đâu cũng có sự hiện diện của cả hai nền văn
hóa đặc sac này.
Với chúng ta ngày nay, một câu hòi được đặt ra là:
Huế vào Sa Huỳnh hay Sa Huỳnh ra Huế? Đông Sơn vào
Huế hay Huế ra Đông Sơn?
Tất cả còn chờ. Nơi phát hiện được di chỉ văn hóa
trước chẳc gì đã là địa bàn phát tích duy nhất cùa nền văn
minh đó.
So với Sơn Vi (Phú Thọ) cương vực Huế lý tường
hơn nhiều. Huế gần biển, ấm áp, lắm sông ngòi, đâm phá,
lẳm núi non hang động. Biển với lẽn Trường Sơn và
Trường Sơn vươn ra biển làm điểm cặp gỡ kỳ tú ngàn đời.
Trong cái vòng cung ôm biển. Huế ờ vị trí hàng đầu nhô ra
đại dương. Huế có Sơn Vi là phải. Tiếc ràng phát hiệp
nỉìẫii nhiên vè sự xuất lộ ''end choppe” loại hình Sơn Vi ở
13
làng Ngọc Hồ không được đế ý. Tiếp sau Sơn Vi, Huế có
đầy đủ ba kỳ cùa thời đá mới. Dông Sơn và Sa Huỳnh từ
trong ra, ngoài vào hay tự ba kỳ đó mà nên? Chưa biết
quan tâm thì chưa thể trả lời được. Nhung đã có Đông Sơn,
có Sa Huỳnh là có liên minh bộ lạc, bộ tộc và có thể cũng
đã trải qua các giai đoạn mà Kinh Dương Vương, Lạc
Long Quân, Hùng Vương, An Dương Vương làm thù lĩnh.
Âu Lạc bị chiếm. Nghìn năm Bắc thuộc các quan Thứ sử,
Thái thú khó với tay qua dải Hoành Sơn. Huế nằm ngoài
tầm đô hộ nhiều ngày hơn. Nhờ thế nước Hồ Tôn có lè là
tiền thân cùa Vương quổc Champa ra đời tách khỏi Việt
Thường Thị. Đèo Ngang từ quy ước phân vùng nội bộ
nghiễm nhiên đóng vai biên cương phía bắc cùa Vương
quốc mới này. Chăm pa hưng vong. Huế thăng trầm theo
dòng lịch sử.
Bởi nhờ có Hoành Sơn mà Huế không đậm văn
minh Trung Hoa cổ đại. Bởi vướng Cù Mông, Ngãi Lãnh
(Hải Vân), Huế gắn bó với nền văn hóa Ẩn Độ cổ đại
nhưng không thật vẹn toàn. Huế đứng giữa hai nền văn
minh ấy. Huế gặp gỡ, tiếp thu cả hai. Vô thức nhiều hơn
hữu thức. Cái thế của Huế làm nên cái lý cùa Huế phải vậy.
Đông Sơn hay Sa Huỳnh gặp nhau ờ Huế, xuất phát từ Huế
cũng tự cái lý ấy, tự cái vị thế ấy.
Văn minh Ẩn Độ, văn minh Trung Hoa nhập vào đất
Huế, hòa đồng với văn hóa bản địa để làm nên bản sắc Huế
đứng giữa đất nước không thiên bắc, không thiên nam. Huế
là An - Tĩnh - Bình - Trị nối dài. Huế có gốc Thanh mà
khônq đậm Thanh. Thanh đứng đầu Trung nhưng lại thiên
14
13ắc. flue gần Nam - Nuãi mà không như Nam - Ngãi. Việt
cổ nơi Huế đậm hơn các nơi khác để Giáo sư Nguyễn Đức
Từ Chi nhìn ra món ăn Huế, món ăn Mường. Tôi được
sổng với Huế gần tròn ba mươi năm lại thấy sự bình dân
cùa Huế giốnu như sự bình dân ở xứ Nghệ - Lam Hồng,
quê tôi.
Có những người Việt từng làm quan ờ Vương quốc
Chăm pa. Có những người Chăm tham gia khởi nghĩa cùa
Hai Bà Trưng, tham gia kháng chiến chống quân Minh
xâm lược đầu thế kỷ XV.
Huế Chăm, Huế Việt từng có chung một “ bộ Việt
Thường''. Huế xa xưa là Việt. Huế xa xưa là Chăm đều
chung vai gánh hai đầu đất nước.
Vâng, Huế cổ đại, Huế trung - cận đại, Huế hiện đại
vẫn là gạch nối Bắc - Nam. Vạch nối ấy có nhiều lần bị đứt
bời sự xâm lăng ngoại tộc hoặc nội chiến vương triều.
Nhưng sau mỗi lần đứt võ đều được nối lại bền hơn, chẳc
hơn bời nhu cầu thiêng liêng cùa cả cộng đồng.
Nghìn năm Bắc thuộc, Huế đứng bên ngoài ách đô
hộ Hán, Tấn, Tùy, Đường... đành chơi với văn minh Ẩn
Độ. Những đền tháp Chăm còn đó là dấu ấn cùa một thời
ly khai đất tổ ở thế chẳng đặng đừng.
Nuô Quyền iùa được quân Nam Hán ra ngoài cõi
(năm 938) đặt cơ sờ cho các dòng họ Đinh, Lê, Lý, Trần,
Lê, Nguyễn xây dựng và cùng cổ nền độc lập tự chù. Huế
nhập về với Dại Việt trong mối tình cố cựu để làm đầu cầu
phục hưng nửa nước Việt phương Nam.
15
Huế là thành phố đang đóng vai trò tinh lỵ cùa tinh
Thừa Thiên Huế. Huế là đại diện không gian vãn hóa nằm
trong chuỗi Thanh - Nghệ - [^uế - Quảng. Với tính đặc thù
và cả với vị thế địa lịch sử, địa văn hóa, Huế mãi mãi
THƠM trong lòng non nước Việt. Xin đừng nhìn Huế qua
cơ sở hạ tầng. Bởi lồi đó không chi riêng tại Huế mà “Cả
nước yêu thương ôm Huế vào lòng” đang còn là tiếng hát.
16
Từ Vân Trạch Hòa nghĩ về
Lỉnh Thái Tư Hỉền
Làng Vân Trạch Hòa thuộc xã Phong Thu, huyện
Phong Điền nằm trên một vùng gò đồi cận sơn bên tả ngạn
(bờ bắc) sông Ò Lâu, cách trung tâm thành phổ Huế 40km
về phía tây.
v ề địa lý hành chánh, Vân Trạch Hòa thuộc tỉnh
'Phừa Thiên Huế nhưng về địa hình thì nó là dải gò đồi
đông Trường Sơn nằm giữa sông Bồ (Thừa Thiên-Huế) và
sông Thạch Hãn (Quảng Trị).
Xa xưa nơi đây còn là khu rừng già, tên cũ chưa tra
cứu được. Vân Trạch Hòa là tên mới ghép hơn nửa thế kỷ
nay do dân cư ba làng Vân Trình, Phò Trạch, Hòa Viện lên
lập nghiệp mới có. Giữa xóm Hòa Viện trên một đỉnh đồi
cao hiện còn phế tích của khu đền tháp Chăm đã đổ sập
hoàn toàn. Hơn một nửa khu vườn nhà anh Phong (trưởng
thôn) là những lớp gạch và những viên đá tảng có lõm chân
cột, nhiều khối đá vuông, vài trụ đá dài nằm bừa bộn ngổn
ngang dưới gốc mít, gốc chè.
Phía sau vườn nhà anh Phong, vốn là vườn chùa, nay
chỉ còn lại một cái am nhỏ đúng giữa vạt cỏ càn cỗi hoang
17
vu với những hố đào ngốn ngang cùa những người đi tìm
kiếm cổ vật kết hợp rà sắt thép vụn. Í3ệ thờ bàng đá lớn và
một vài mảng phù điêu hình lá đề được phát hiện tình cờ
tại khu đất này. Từ đó Vân Trạch Hòa bat đầu có tên trong
bàn đồ khảo cổ học Việt Nam. Đầu nguồn sòng Ò Lâu
phần địa bàn thuộc tỉnh Quảng Trị nàm phía sau Vân Trạch
Hòa, ngày trước có cụm tháp Hội Diền, cũng kỳ vĩ lắm.
Chúng ta chưa có điều kiện điều tra thám sát loàn bộ khu
vực miền tây hai huyện Hải Lăng (Quảng Trị) và Phong
Điền (Thừa Thiên Huế) nhung qua sự hiện diện hai phế
tích cùng một loại hình kiến trúc đền tháp Hội Điền - Vân
Trạch Hòa cũng đù gợi nên một vùng thánh địa Chăm pa
trong quá khứ.
Nếu ta kẻ một đường thẳng từ giữa Hội Điền - Vân
Trạch Hòa qua trung tâm Thành Lồi (có lẽ là Khu Túc, hay
Phật Thệ) nay thuộc xă Thủy Biều, Thành phố Huế thì đinh
đồi Hà Khê nơi có chùa Thiên Mụ với núi Linh Thái bên
cửa biển Tư Hiền (Tư Dung, Tư Khách) mà trên đỉnh có
tòa tháp Chăm một thuở uy nghi cùng nằm trên đường
thẳng này. Khoảng cách từ Vân Trạch Hòa đến thành Lồi
tương đương khoảng cách từ thành Lồi đến cửa biển Tư
Hiền - Linh Thái (xấp xi 40km mỗi bên).
Người xưa đã lập thánh địa nằm trong hệ quy chiếu
này chăng?
Ô Lâu - Ò Châu, sông Bồ - Ngũ Bồ là những địa
danh vương vấn bên dòng sông hiện thời còn đó như nhắc
ta một thuở huy hoàng đấqua.
Nhữníỉ phế tích dền. iháp cố Chămpa dày đặc trên
đất Huế từ Phong Hòa. Phone Thu, Phong Mỹ. Phong Sơn,
Phonu Hiền, Phong Chương, Quảng Vinh. Quảng Thành,
Quảng Thọ, Hương Xuân. Hương Toàn, Hương Vinh,
Hương Long, Hương Hồ, Thủy Biều, Thủy Phương, Phú
Diên. Vinh Hà, Vinh Thái, Vinh Hiền, Lộc Vĩnh, Lộc
Hài... cho ta nhìn lại một thuở Lâm Ẩp - Hoàn Quốc xa
xưa. Các xã Phong Thu, Phong Sơn, Phong Mỹ đứng đẩu
nguồn sôníỉ 0 Lâu, sông Bồ, qua Thành Lồi nhìn ra cửa Tư
Hiền, giống như Thánh địa Mỹ Sơn đứng đầu nguồn sông
Thu I3ồn qua Trà Kiệu nhìn ra biển Hội An.
Sự nổi kết tây - đông, núi - biển trong tâm thức tín
ngưỡng chịu sự chi phối cùa Ấn Độ giáo, Phật giáo hằn lên
trong lổi bổ cục xây dựng đền tháp Chămpa theo hệ quy
chiếu cổ điển này.
Sumêru - Hương Thủy hải luôn luôn là cặp song sinh
trong quá trình sáng tạo miếu đền chùa tháp.
Vân Trạch Hòa vẫn ngổn ngang gạch đá, dân đi dũi
đất thăm tìm cùa quý vẫn lự do hành nghề. May mà cái bệ
thờ quá lớn chúng chỉ sờ vào vài cụm tượng góc thôi. Chi
sờ là nói lên tai họa chưa nặng lắm nhưng cũng đù bịt mắt
những người thiện chí hiền lành muốn nhin về dĩ vãng.
Những góc bị mất là gì, ra sao ngoài những người có trình
độ “văn hóa ăn cẳp” lành nghề trực tiếp làm việc đó không
ai biết.
Bệ thờ ba tầng ghép bởi hai khối đá có mặt bằng hình
vuông và các mặt bôn thẳng đứng hình chừ nhật. ĩầng
dưới và tầng thứ hai là một khối đá được the hiện nhiều
19
cụm iượim nừa tròn nứa phù diêu (chù vếu ở bổn uóc và
bốn mặt dứnu). 'ỉ ầii” dirói. có độ cao trunii bình là I 55mm,
chiều dài là 1 170mm. Tầng thứ hai có chiều cao trung bình
là 95mm. chiều dài là 870mm, chù yếu để làm điểm tựa
cho các cụm tượna ờ tầng dưới nhô lên dồng thời làm đế
định vị cho tầng ba (trên). Cạnh trên của tầng hai này được
khẳc sâu vào 20mm làm thành một gờ chìm chạy quanh
bốn mặt. Giữa mặt bằng tầng hai được đục một ô vuông
sâu 25mm, rộng 566mm.
Tầng ba (trên cùng) là một khối đá vuông mồi cạnh
mặt vuônti là 565mm, cao toàn khối là 280mm. Viết “toàn
khối”, bời nếu tách tầng ba ra mà xét thì có ba phần: thân,
dai. chân. Thân cao I90mm, bốn mặt đều có bốn hợp thể
phù điêu. Mồi hợp thể đều có ba mảng cân đối. Dai là một
gờ nổi ra khỏi thân 30mm, rộng 40mm, vừa làm đế cho
bốn hợp thể phù điêu vừa trang trí như là giới hạn để dễ
phân định với hai tầng dưới. Chân tầng ba tính từ gờ nổi
xuống cạnh đáy là 50mm, một phần (25mm) ngập sâu vào
lòng ô vuông cùa tầng hai (giữa), còn lại 25mm là khoảng
cách tách đai ra khỏi mặt bàng đế (tầng hai).
Bệ thờ Vân Trạch I lòa được đào lên từ điểm cao nhất
của khu phe tích, có lẽ đó là trung tâm lòng tháp. Trên bệ
thờ có một khối đá hình tháp Ai Cập, chia thành hai phần.
Trên là một khối chóp, bốn mặt là bốn lam giác gần đều có
các cạnh dài 500mm. Dưới là một khối chữ nhật có chiều
cao 1 lOmm. chiều rộng 350mm. như một cái mộng đơn.
Cà hai phần có chiều cao tổng cộne là 470mm. Nóc khối
chóp tam tiiác khôtiíỉ đều, bởi hai góc bên khoảng 60 độ.
hai ỊZÓC còn lại có một đoạn n.uan.í» nối khoàn.u 20mm. Nhìn
20
toàn khối chóp uiốnu như một cái bánh lì uhép bởi hai hình
tam giác đều đối xứng và hai hình thang (cạnh trên rất
imấn = 20mm) cũniỉ vậy. Tôi tmhĩ ràng đây là khối đá úp
nóc tháp vừa chốnu dột vừa tạo mũi nhọn cho đinh tháp vút
lên cao.
Theo vị trí đặt bệ thờ này tại phònu Irưim bày cùa
Bào tàna Lịch sử tỉnh Thừa Thiên-Huế (trườnu Hàm Nízhi
cũ - số 3 đirờnu 23 tháníi 8) thì mặt hướn« ra cửa được coi
là mật ngoài có mười hai hợp thể trang trí. Hai góc bị đục
mất còn lại mười nhóm như sau:
Nhóm giữa là ba tượng người ngồi trên lưng một con
chim lớn đang gianti rộng cánh cùa tư the bay (tầng dưới).
[ỉên trái (trừ góc) có hai chim ngồi trong cửa (nhìn
chính diện) hai bên một vòm cuốn dạng chữ u ngược.
Trong vòm cuốn là một nữ thần đứng chắp hai tay trước
ngực. Ba nhóm bên phải (từ góc) cũng vậy.
Tầng trên có ba nhóm: hai bên là hai ô vuông được
trang trí chạm nổi bốn cạnh, ờ giữa ô vuông lớn đó là hai ô
vuông nhò đồng tâm. Giữa hai ô vuông lớn đối xứng hai
bên là nhóm phù điêu chính gồm một vòm cuốn gần tròn
bao chuníĩ quanh tượng người ngồi hai chân xếp tư thế kiết
íĩià. tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm lá phưón.
Mặt trong có lẽ là mười bốn nhóm, nhưrm bị đục
mal một nhóm. G iữa là người níiồi trên voi. Phía trong
sau lưníỉ voi là một người ngồi trong vòm cuốn tay chap
trước nuực. chân phải chốim. chân trái ở tư thế bán íìià.
( j ó c t rá i m ặ t t r o im chung v ớ i ÍZÓC p h ả i mặt bên phải là
21
một khối lượng dưới có hai con vật dạng nhân sư và trâu.
Irên là ba pho tượiiíỉ người. 1'ượng giữa (chính góc) ngồi
chống chân phải, tay phải cầm lích trượng, tay trái chổng
xuống bệ ngồi (sát mông). Hai tượng bên chẳp tay đảnh
lề. Tượng bèn trái chống chân phải, tượng bên phải chống
chân trái. Góc phải mặt trong chung với góc trái mặt bên
trái của nhóm tirợng dưới là hai con vật có lẽ là nhân sư
với lẻ giác. Phần trên bị dục gãy. Hai bên nhóm voi là hai
tượng nữ thần đứng đảnh lễ trong hai vòm cửa kết bời các
lá nhT và bổn con chim, đối xứng từng đôi qua hai tượng
nữ thẩn. Tầng trên giữa là tượng người ngồi kết già, hai
tay đặt trên hai đầu gối như bắt quvết, trong nửa vòm
cuốn gần tròn. Hai ô vuông trang trí lá quỳ, hoa lựu đối
xứng như mặt trước.
Mặt bên trái cũng có thể là mười bốn nhỏm. Nhóm
giữa là một người ngồi trên tòa sen kép đặt trên lưng bò.
Phía trong có hai nhóm trong hai vòm cuốn chừ u ngược là
hai người ngồi đảnh lễ. Người ngồi bên trái chống chân
trái, người ngồi bèn phải chống chân phải. Góc bên trái
chung với góc bên phải mặt trong. Góc bên phải chung với
góc trái mặt ngoài (đã mất). Ba nhóm tượng trên lưng bò
đã bị mất. còn lại ba tòa sen kép. Tượng giữa tầng trên bổn
tay. Hai tay giơ ngang tai, bên phải cầm tâm ấn, bên trái
cầm một khối bầu dục. vẫn có hai ô vuông, hai tượng nữ
thần đứnu và bốn con chim ngồi đối xứng từng cặp như ba
mặt bên.
Mặt bôn phải có thể phân thành mười ba nhóm. Bốn
chim ngồi, hai nữ thần đứnu như các mặt bên. Góc trái
chunii với tzóc phải mặt ngoài là ngựa và imười đã bị đục
22
mất mới thu lại. Góc phải chung với góc trái mặt Irong là
nhân sư chung với trâu đỡ ba pho tượng như đã trinh bày.
Mưu ý mặt này là phần uiữa có ba tầng tượng. Tượng tầng
trên ba đầu, hai tay đặt lên hai đầu gối ở thế kiết già. Tay
trái cầm hồ lô. Tay phải cầm chùm hoa. Bẽn níỉoài hai tay
có hai tượnu người nhỏ quỳ một chân, mông ngồi lên bàn
chân còn lại. Lớp tượng thứ hai có ba người ngồi trên ba bệ
riciiü đều chốnu một chân. Tượng iỉiừa và tượng bên trái
chốim chân phải, tượng bên phải chống chân trái. Riêng
tượng giữa ngồi trôn đài sen đơn, to cánh và rộng, phía sau
có hai dáng nmrời như gợi ý về một “ Bảo tọa” với ba lớp
nmrời: ỉ)ức Phật, chư vị Bồ '1'át với chúng sinh. Lớp tượng
dưới là một nmrời níỉồi kiết già, tay phải cầm tích trượng,
tay trái đặt lên đầu uối trái. Hai bên có hai người già tóc và
râu dều dài đang hạ gối đảnh lễ. Có lẽ đây là sự mô phỏng
truyền thuyết về các tu sĩ Bà La Môn giáo đã được giác
ngộ Phật.
Hiện vật Vân Trạch Hòa, ngoài bệ thờ, chóp tháp còn
có một nửa phù điêu hình lá đề cao 860mm, cạnh đáy còn
lại 600mm (dưới đế). Bên trong là tượng một người ngồi
lên gót chân trái, chân phải chống ngập ngừng. Hai tay
trước chấp lễ. hai tay sau giơ ngang tai. Bên trái có một trụ
dạng tích trượng. Phía trên lay trái sau là một tâm ấn có
chừ thập càn ờ giữa. Phía trên tay phải sau là một khối nổi
nhỏ «iổno như ngọn lừa. Dirới tượng người còn có một con
lợn quỳ mẹp xuốnu sát iiờ gáy (có lẽ không phải tê giác).
Toàn bộ các nhóm tượng dường như đều đặt trên các
tòa sen dưới dạng kiết già, trích tượng, tâm ấn, giáo huấn,
đánh le. giác ngộ. với các hinh tượng Tây Phương Tam
23
Thánh. Mã Minh Đại Sỹ, Đại Thế Chí... gợi lên troniỉ tôi
về Vân 'I rạch Hòa như là mộl bộ phận cùa Thánh Địa Phật
giáo, đế từ biển Linh Thái trông lên phía Thành Lồi người
ta dễ tưởng thấy hùng vĩ một dải Sumcru hùng vĩ. Và, từ
núi Thất Thế Giới qua Vân Trạch Hòa - Khu Túc (Thành
Lồi) nhìn về phía Linh Thái thấy Hương Thủy Hải mênh
mông.
Huế thấm đẫm môi trường thiền lừ những điều
như thế.
24
Tháp và am Liếu Cốc
Tháp và am Liễu Cốc tọa giữa xóm Bàu Tháp, làng
Ucu Cốc Thượng, xã Hương Xuân, huyện Hươiig Trà. cách
truny tâm thành phố Huế lOkm về phía bẳc - tây - bắc.
Liễu Cốc xưa là một làng lớn, đất rộng người
thưa, địa thế nhiều cấp độ: núi, đồi, gò, biền, bàu liên
hoàn từ dãy Thế Giới sơn ra đến gần sông Bồ. Liễu Cốc
có một vùng bình nguyên rộng góp phần làm nên vựa
lúa H ương Trà.
Ngày xưa tuyến thiên lý từ phía bắc vào, vượt qua
sôniỉ Ò Lâu, men theo bờ phá Tam Giang nối Sịa (xã
Quáng Phước) với thành Hóa Châu (Lý Thành) nay thuộc
xã Quàng Thành rồi đến Thanh Hà - Bao Vinh (thương
càng cổ) xã Hương Vinh mới sang sông Hương bằng đò
ngang ở bến gần chợ Được thuộc làng Thụy Lôi (nay là
phường Phú Hòa, Phú Cát, Phú Hiệp, thành phổ Huế). Nếu
đi đưừnu thủy thì xuống bến Ò Lâu rồi theo phá Tam
Giang xuôi cửa Tư Hiền vượt Hang Dơi dưới chân Ngãi
Unh (sau gọi là Ải Vân).
Tuyến đường Thiên lý ấy cho các lớp imười “ nam
tien" thấy mà quen dần những dền, tháp hùng vĩ, những
vùnu Thánh địa Liy nghi cùa một thời Chămpa.
25
Từ Phong Nha. Lộ Sơn, Dại Hữu (Ọuáng ỉỉình) đến
An Xá, Dương Lệ. Hội Diền (Quảng Trị) rồi Phong Hòa,
Phong Thu, Phong Sơn. Phong Mỹ, Phorm Hiền, Quảng
Vinh, Thiên Mụ, Thành Lồi... và Linh Thái đứng trên một
tầm cao giữa mây xanh nước biếc bên đại dương mênh
mông (Thừa Thiên - Huế)... như là những gợi ý ứng xử ban
đầu cho những người đi mở nước trên vùim đất lạ.
Các lớp người ấy hoặc đi bộ hoặc đi thuyền đều
qua Hóa Châu và có lẽ (nếu cần) họ còn nghĩ lại. Thành
Rí cùa một thời Châu Rí rồi trở nên thành Hóa Châu cùa
một thời Thuận - Quảng làm “đầu cầu” vào nam cùa xứ
d Ằn g t r o n g .
Tháp đôi Liều Cốc đứng trên một gò đất cao giữa
bình nguyên hữu ngạn sông Bồ cách Hóa Châu thành hơn
một cây số về phía chánh tây. Đứng ở 'T h àn h Lý” ấy nhìn
vào Liễu Cốc và ngửng cao lên nóc tháp ta sẽ gặp ngay
đinh trung tâm cùa dãy luìi Thất Thế Giới xưa là một khu
rừng già uy linh vời vợi.
Cuối Ihế kỳ XIX, người Pháp mở con đường xuyên
Đông Dương. Nay là quổc lộ số Một. Quốc lộ số Một chạy
qua làng Liễu Cốc nên mới sinh ra Liễu Cốc Thượng và
Liễu Cốc Hạ. Xóm Bàu Tháp do một người ở Liễu Cổc
Thượng chiếm trước, khai canh, thật ra là khai khẩn trên
một địa hình cồn - bàu đã bỏ hoanu hóa, nên dù nam phía
đòng quốc lộ Một vẫn là đất Liễu Cốc Thượng. Nhà thờ họ
Nguyễn Văn quay lưng với Liễu Cổc Hạ mà nhìn ra Tháp
Dôi, nhìn ra bàu như là những người đi tiên phong làm trụ
mốc giữ đất cho làniỉ.
26
I háp Dôi tọa lạc trên gò đất cao như hai “ Mẹ Con"
dứng bên nhau cùng nhìn ra phía biên cừa Sình. Dó là
hướng chính đông. N yày xưa đây là một cánh đồng rộng
làm kho ngũ cốc cho cả làng Liễu nên hai ngôi tháp
đứng lồng lộng tỉiừa irời mây và sóntỉ lúa càng hoành
tráng kiêu sa.
Tháp nhỏ đímg bên trái và cách tháp lớn khoảnu 2 3m, có lẽ như cặp tháp Dôi ờ huyện Tuy Phước tinh Bình
Dịnh trước khi vào thành phố Qui Nhơn (xưa là Cri Bonei).
Một đoạn Bàu nàm ngay phía bắc lừ tây sanc đông
rồi mờ rộim mặt nước ờ hướng đôim nam để nối với sông
Bồ. Bởi có một đoạn nằm ngang phía bấc tháp nên đã có
niiười tườnu dó là '1iộ thành h ấ ' chong sự tan công lừ
hưứnti bẳc. Dung tục hóa một công trình kiến trúc văn hóa
dền tháp uy nghiêm Ihành pháo đài, lô cốt chi có người
thời ta nhờ tư duy chiến tranh mới có.
Tháp Dôi Liễu Cốc đã sụp đổ lừ lâu, chỉ còn một
phần Ihân tháp lớn đửiig lại làm chứng tích một thời kiêu
sa kỳ vĩ.
Ngàn năm, hoặc hơn thế đã qua. những viên gạch vồ
bị phũ phàng giữa nắng mưa với bao tuế nuuyệt vẫn rắn rỏi
như cố ui ừ những gì là quá khứ. Có lẽ cả Thừa Thiên - Huế
hay rộng hơn. cả Bình - Trị - Thiên chi còn Liều Cốc. chì
còn Tháp ỉ)ôi ở dây đang đứng được một phần thân thể.
Hình như dó là máng thân phía sau. Chỗ đống gạch nổi cao
nhất mà ta có thê Ico lên được dường như là lòng tháp. Hai
góc còn lại làm giới hạn thân sau cho ta một ước đ...
DX.037801
IỈ3
N HÀ X U Ấ T BẢN LAO Đ Ộ N tí
Huế - Coi đát therm
Đã có nhiều nmrời giảng giái rằng Huế là từ Thuận
Hóa mà nên. Mới nghe tưởng là có lý. Bởi lẽ ở thời thịnh
Nguyền người ta buộc phải kiêng một số tên húy. Ví như
"hoa” đọc trại thành “ huê” là do bà thân mẫu cùa nhà vua
Nguyễn Hiến Tổ (Thiệu Trị) có tên là Hoa. N hưng chi trại
riêng chữ Hoa thành Huê, Thanh Hoa thành Thanh Hóa
mà thôi. Không phải tất cả oa đều thành uê, óa đều thành
uế hết.
Thì đó, vẫn còn Thuận Hóa, Thiệu Hóa, Tuyên Hóa,
Minh Hóa, Hướng Hóa, Lạc Hóa, Mộc Hóa, Quy Hóa...
Chẳng có địa danh “ Hóa” đơn tiết nào để biến thành “ Huế”
đơn tiết. Nếu nói rằng Huế từ Thuận Hóa mà nên thì phải
gọi là Thuận Huế mới phải. Xưa nay chưa có sách nào ghi
Thuận Huế mà chi Huế không thôi. Vả lại khi một từ hoặc
một cặp từ biến âm thi từ căn bị triệt tiêu. Cho đến nay
Thuận Hóa vẫn tồn tại đồng hành với Huế đó sao. Sự biến
âm của một địa danh phải tự thân và tự tại. Thanh Hoa
thành Thanh Hóa ngay trên địa bàn trước sau vẫn của tỉnh
đó. Bình Thái thành Binh Thới cũng vậy. Đổi tên nhung
không đối địa bàn và phạm vi vốn dĩ. Thuận Hóa là địa
danh kcp ghép hai cháu Tỉuiận và Hóa mà nèn. Thuận từ
châu Ô. I lóa từ châu Rí.
"Hui châu ỏ Rí
V U Ô H ỊỊ
ngàn dặm
Một gái thuyền quyên cùa mấy m ư ơ i”.
(Hoàng Cao Khải)
Thuận Hóa vuông ngàn dặm mới ôm gọn nửa phía
nam tỉnh Quảntỉ Trị. toàn bộ tỉnh Thừa Thiên Huế và nừa
phía bắc tỉnh Quảng Nam. Có khi còn rộng hơn gồm hai
phủ Tân Binh (Quảng Bình), Triệu Phong (Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế, Đà Nang). Sách “Ô Châu Cận Lục” do
Dương Văn An nhuận sẳc viết về vùng đất đó. Huế chưa
bao giờ rộng đến thế. Thuận Hóa chưa một lần được coi là
Thuận Huế. Cũng vậy, Hóa Châu chưa một lần được gọi là
Huế Châu. Chúng tôi nghĩ rằng Huế là Huế mà Thuận Hóa
hay Hóa Châu cũng như Thừa Thiên Huế với Huế ngày
nay thôi. Hơn nừa Huế là một từ đơn. Hóa Châu hay Thuận
Hóa là một từ kép. Từ đơn thông thường cao tuổi hơn từ
kép Hán Việt bởi bóng dáng bản địa còn đậm đà. Kẻ Huế
vẫn được Linh mục Alexandre de Rhodes nói đến khi xứ
Thuận Hóa đã ra đời được 334 năm và đang tồn tại dưới
danh nghĩa Thừa tuyên Thuận Hóa ở xứ Đàng Trong.
Thuận Hóa không bị triệt tiêu khi biến danh thì Huế càng
không thể do Thuận Hóa mà thành.
Kẻ Huế có vẻ đầu nguồn cùa ngôn ngữ Việt hơn và
biết đâu đó lại là “con nòi cùa giống”. Mặt khác xứ Thuận,
xứ Hóa là một cặp song sinh từ Ô, Rí. Sau năm 1306, Ô
được đổi thành Thuận, Rí được đổi thành Hóa. Muốn Hóa
(tức phát triển) điều kiện tiên quyết là phải Thuận. Địa
danh này ra đời là ánh phản ước vọng cùa lớp người Việt
đầu thế kỷ XIV. Thuận Hóa lúc đó có hai phủ Tân Bình và
Triệu 1'hotm. Tân Binh ve sau Chúa Tiên Nguyễn Hoàng
đối thành Quàng Bình. Triệu Phong bao uồm Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế. thành phố Đà Nằng và huvện Diện Bàn
ttuiộc tỉnh Quàng Nam nuày nay. Địa danh Huế chưa bao
giờ nhận vậy.
Theo Podharma, “ huế" là tienu Chăm như chừ
“thơm” của tiếng Việt. Huế = Thơm. Kẻ Huế = Kẻ Thom.
Như vậy là về ngừ nghĩa huế hoàn toàn khônu có nội hàm
cùa hóa. Huế không phải từ Thuận Hóa thành.
Và lại, nêu bảo rằng Huế từ Hóa Châu mà có thì
trước tiên dân làng Thành Trung (trung tâm thành Hóa
Châu), dân xã Ọuảng Thành, dân huyện Quảng Điền, được
tự minh nhận là Huế trước. Nhưng họ còn phải đímg từ xa
mà nhìn Huế. Với họ, Huế là những dãy phố san sát hai
bên bờ sông Hương phía trên thương cảng Thanh Hà - Bao
Vinh. Nơi đó một thuở là thù phù. Một thuở là kinh đô.
Kinh đô Huế là kinh đô Phú Xuân. Kinh đô Phú
Xuân bẳt nguồn từ thù phù Kim Long - Phước Yên - Ái
Tử. Đó là mạch phát từ Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng né
tránh Hóa Châu là né tránh mổi hiểm nguy bất ngờ từ phía
Trịnh. Các thế hệ chúa Nguyễn bỏ mặc Hóa Châu bởi một
thời quan lại do chúa Trịnh phái vào cai quản ờ đó. Hóa
Châu tàn tạ làm sao mà được hóa thân thành Huế với thời
Niỉuyễn. Và, cho đến nay địa danh Hóa Châu vẫn còn. Như
thế là Châu thành Huế không giành Châu thành Hóa cho
mình. Huế là Huế từ đầu vậy.
Cũna có khi do nhu cầu xác định địa bàn mang tính
đặc thù cần sự thuận ngôn tươiiíỉ ứng, Huế được nâim lên
như một đại diện vùne nam giữa đèo Ngang và đèo Hái
Vân. Đó là Thanh, Nghệ, Huế, Quàntỉ. v ề mặt địa giới
Thanh cho tỉnh Thanh Hóa. Nghệ cho cả Nghệ An và llà
Tĩnh. Quàng cho cả Quảng Nam và Quảng Ngãi. Huế chưa
bao giờ ôm tất cả địa vực Bình. Trị, Thiên, Dà Nẳng như
Thuận Hóa một thời. Huế khôny từ Thuận Hóa mà nên
vậy. Nhung về mặt phong thổ, địa bàn, nguồn gốc dân cư,
tâm thức, tính cách... Huế trong chuỗi Thanh - Nghệ - Huế
- Quảng xin được coi là một vùnu đặc trmig về lĩnh vực địa
văn hóa mà thôi.
Nhừiig năm đầu Công nguyên, Huế có lẽ là Lô Dung
- một trong năm huyện cùa quận Nhật Nam (Tây Quyển,
Chu Ngô, Tỷ Cảnh, Lô Dung, Tượng Lâm). Quận Nhật
Nam bị nhà Hán đô hộ. Văn minh Trung Hoa bất đầu gia
nhập vào bộ phận dân chúng vốn là chủ nhân cùa văn hóa
Sa Huỳnh có sự xen cư với chù nhân văn hóa Dông Sơn
mà trước đó vốn đã tìm được ánh sáng cùa nền văn minh
Án Độ cổ đại. Sự pha trộn như thế làm nên sắc thái riêng
cùa cộng đồng dân cư bẳc Chăm pa. Cuối thế kỷ thứ hai
sau Công nguyên, nhân dân huyện Tượng Lâm (Quảng
Nam, Quảng Ngãi) nổi lên chổng quan quân nhà Hán với
sự hưởng ứng không chỉ của các huyện thuộc quận Nhật
Nam mà còn của quận Cửu Chân (chủ yếu là An Tĩnh).
Nhà nước Lâm Ẩp ra đời nghiêng hẳn về phía Ần Độ bởi
tính thuần lương vô tư và Irong sáng cùa nền văn minh này.
Án Dộ giáo, Bà La Môn giáo, ỈMiật giáo phát sáng. Vươnu
triều Gangaraja ra đời chọn Trà Kiệu làm kinh đô khai
sánu. ỉ)ó là Sinhapura. Sinha là sư tứ. Pura là thành phổ.
I hành phố mang tên sư tứ phái chăng là khát vọng về sự
tim kiếm sức mạnh đề tự cường trước nạn bành trướng cùa
các thế lực phươim Bắc luôn luôn là nguy cơ. Tín ngưỡng
Án Độ là cứu cánh làm chồ dựa cho vương triều mới mà
Phật giáo đóng vai trò tích cực để bình ổn xã hội sau vài ba
trăm nãm bị dô hộ. Tron” bối cảnh đó Nam Chăm thảnh
thơi đi với Án Độ giáo, Bà La Môn giáo, tự lập mà lớn lên.
Băc Chăm và Nam Chăm hằn thành những nét dị biệt trên
nền tươna đồníỉ vì lẽ đó.
Năm 446 Thứ sử Giao Châu là Đàn Hòa Chi của nhà
Tiền Tống đánh chiếm Lâm Áp. Kinh đô Sinhapura bị
cướp pliá nặng nề. 159 năm sau, kinh đô Sư tử này lại bị
Lưu Phương của nhà Tùy tàn phá cướp giật. Vương triều
Gangaraja hai lần gặp đại nạn từ phương Bắc, nên tan nát
và suy yếu, khó phục hung. Trong khi đó phía nam yên ổn
hơn. Án Độ giáo và Bà La Môn giáo mặc sức lan tỏa ảnh
hưởng và chi phối mọi sinh hoạt xã hội. Sức mạnh và sự
phát triền yên lành từ phía nam trở thành lực hấp dẫn.
Vương triều Panduranga ra đời, kinh đô Chăm pa chuyển
về phía trong lấy Po Naga làm trung tâm quyền lực. Po
Naga tôn thò nữ thần Uma - vợ của thần Siva chính là tôn
thờ Ấn Độ giáo.
Sang thế kỷ thứ VIII tình hình xã hội phương Bắc từ
Tùy. Đườnu đến Lươnt». Tấn không yên. nhân dân bị trị
các quận Giao Chi, Cửu Chân liên tiếp nồi dậy. bắc Chăm
v ớ i dịa bàn cư trú rộnu. dân cư đông, ruộntỉ đồng màu mỡ
lại bình yên dưới bóng Bồ Đe, tái tạo nên lực hấp dẫn.
Vương triều mới có lẽ của Inđravacman li chiếm ưu thế.
Kinh đô Chăm pa lại chuyển ra bấc Chăm. Đồni» Dươntỉ
nay thuộc xã Bình Định, huyện Thăng Bình, tinh Quảng
Nam được lựa chọn de xây dựng kinh đô ánh sáng chiếu
bởi hào quang. Đó là Indrapura. Indra là thần ánh sáng tức
hào quang. Pura là thành phố. Thành phố của thần ánh sáng
- hào quang chính là thành phố cùa trung tâm F^hật giáo.
Bởi chỉ có chư vị Phật, chư vị Bồ tát mới phát sáng hào
quang. Indrapura - Đồng Dương cách Sinhapura - Trà Kiệu
kinh đô cũ 15km về phía đông nam là kinh đô Vương triều
đồng thời là kinh đô Phật giáo.
Huế của Ô, cùa Rí, cùa Lý rồi cùa Hóa nằm trong
vòng tỏa sáng cùa ánh hào quang Indrapura - Đồng Dương.
Vương triều Dồng Dương đề cao thần Inđra như là sự dung
hòa tín ngưỡng Ân Độ để cổ xúy và phát huy ảnh hưởng
cùa Phật giáo trên toàn Vương quốc. Po Naga vì thế không
còn chiếm vị trí trung tâm và vai trò cùa Nữ thần Uma, vợ
cùa thần Siva tùng được tôn thờ trong các đền tháp Po
Naga tượng trung cho quyền lực nhà vua cũng giảm thiêng
liêng nên phai nhạt rồi tàn tạ dần. Từ đó chùa tháp thờ Phật
uy nghi lộng lẫy không chi ở Đồng Dương mà hầu như
được cồ xúy trên toàn bộ địa bàn bắc Chăm pa. Mối quan
hệ giữa hoàng gia và hàng ngũ giáo phẩm gắn bó mật thiết
hơn. Có thể nói không nhầm, với Vương triều Đồng
Dương, Phật giáo cũng đã lên ngôi.
Theo Cố Giáo sư Trần Ọuổc Vượng thì Phong Nha
(Quàng Bình) một thời là thánh dịa Phật giáo. Trà Kiệu
10
phía trong. Trà Kệ phía ngoài bị ngăn bởi dãy Ngãi Lãnh
về địa thế nhưng không ngăn hai vùng dân cư vốn là anh
em một nhà về mặt tâm linh. Huế nằm giữa Đồng Dương Phonc Nha, nằm giữa môi trường tín ngưỡng đó lẽ nào
không thấm đẫm màu thiên.
Đọc những tranu viết cùa Giáo sư Lương Ninh về
bia An Thái (Quảnu Nam) thời Bơ - ha - đra - vác - man III
có đề cập đến việc xây dựiig chùa cho Nauapuspa ờ Đồng
Dươnsỉ, rồi liên hệ với địa danh Long Thọ bên cạnh Thành
Lồi (có thể là thành Phật Thệ ở Huế), tôi cứ ngờ ngợ dưòmg
như có mối liên hệ nào đó về hai vùng dân cư trong ngoài
đèo Hải Vân. Long Thọ Bồ tát chính là Nagarjunas. Thành
Lồi và Long Thọ nằm ờ bờ nam hữu ngạn sông Hương.
Chùa Thiên Mụ trên đồi Hà Khê, mà thuở khai sơn mang
tên là Thiên Mỗ, trước đó có lề là nền đền tháp Po Naga
thờ Mẹ Xứ sở, đối ngạn lập thành một cụm trung tâm đứng
giữa hệ quy chiếu Núi - Biển là Vân Trạch Hòa - Thiên Mụ
- Thành Lồi - Linh Thái (cửa Tư Hiền).
N h ư vậy là chùa Thiên Mỗ đã đứng lên trên nền đền
tháp Po Naga cổ một thời thờ N ữ thần Uma mà cư dân bản
địa coi là Mẹ Xứ sở. Po Naga phai mờ. Đền tháp cùa Bà,
thờ vợ thần Siva Ẩn Độ giáo trở thành chùa cùa Mụ, thờ
chư vị Phật, chư vị Bồ tát là quá trình chuyển giao Nam Bắc, chuyển giao Chăm - Việt. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng
không phải là người khai sơn mà chi là người biết thừa kế
tái thiết. Tái thiết chùa nhung không tái thiết tên chùa.
Thiên Mụ cũng là ĩhiên Mỗ. Suy cho cùng thì vẫn bảo lưu
tư tưởng ihờ Mẹ Xứ sờ đó thôi.
Vân Trạch Uòa là cụm tháp nàm trên vùng đất có lẽ
là thánh địa mà chúng ta chi mới nhìn thấy bệ thờ cũng đú
nhận ra các tư thế đành lễ, tôi nghĩ là cùa các chư vị Phật,
chư vị Bồ lát cùng các vị thần Brama, Visnu, Siva. Có lẽ
người xưa đã từng dung hợp tín ngưỡng Ản Độ nên đã coi
vùng thánh địa này là cõi “Tây Thiên” - Su Mê ru chăng?
Và biết đâu, do một sự lình cờ ngẫu nhiên khi mặt trời tụt
xuống phía sau dãy núi nay có tên là Kim Phụng - Thọ Sơn
đã bẳn lên những tia hào quang rẽ quạt làm người ta liên
tường đến miền cực lạc và thế là tên Thất Thế Giới Sơn Su Mê ru được gán cho dãy núi này. Đã có Su Mê ru
đương nhiên phải có Hương Thủy Hải. Dòng sông trong
xanh thanh bình sâu lẳng nằm dưới chân phía đông Thất
Thế Giới nghiễm nhiên được mang tên sông Huế, sông
Thom như là Biển Nước Thơm (Hương Thủy Hải) trong
kinh Phật. Hương Thủy Hải trên thực tế là dòng sông nên
trong văn tự sinh hoạt đời thường được gọi là Hương Thủy
gianỵ. Hương Thủy giang rút gọn thành Hươntỉ Giang từ lẽ
đó. Tôi không ngã về phía lý giái cảm nhận ràng sở dĩ có
tên sông Hương vì mùi thơm của hoa thạch xương bồ hay
cây hương huyền thoại của chúa Tiên Nguyễn Hoàng bên
bờ sông trước chùa Thiên Mụ. Thạch xương bồ có chăng là
trên A Roằng, A Đớt mà cây hương huyền thoại thì mãi
đến năm Tân Sửu, 1601 mới thành chuyện. Địa danh Huế
lại ra đời từ thuở sinh thành, ỉluế là Thơm, là Hương vậy.
Huế khôníi từ Thuận Hóa mà nên bời cả lẽ này nữa.
Diều lôi muốn “ nghĩ về xứ Huế xa xưa” chủ yểu là
nghĩ ve vị thế địa lịch sử và địa văn hóa đã làm nên địa
danh này.
12
Bừ biển nước ta có hai vành ciiim lớn. L.ồi và lõm.
Cung lõm từ Mórm Cái. địa đầu phía bắc tinh Quàng Ninh
vào đến mũi Chân Mây, mút cuối cùa tinh Thừa Thiên
Huế. Cung lồi từ mũi Chân Mây xuống tận mũi Cà Mau.
Cune lõm như ôm một phần tây bộ Thái íỉình Dương.
I'rong giới hạn vòim cung này từ đảo c ồ n c ỏ ra đến đảo
Cô Tô (ngoài bi én), từ Tiên Yên vào tận Hương Trà (trên
đất liền) rải rác xuất hiện dấu vết các lớp người tiền sử và
sơ sừ xa xưa. Huế nằm trong vòng cung loài người trên đất
Việt. Huế cũng có một thời Sơn Vi (hậu kỳ dồ đá cũ) hoặc
cùng thời Sơn Vi (2-2,5 vạn năm trước). Huế có Sa Huỳnh
lại có cà Dông Sơn mà các vùng lãnh thô của nước ta
không phải đâu cũng có sự hiện diện của cả hai nền văn
hóa đặc sac này.
Với chúng ta ngày nay, một câu hòi được đặt ra là:
Huế vào Sa Huỳnh hay Sa Huỳnh ra Huế? Đông Sơn vào
Huế hay Huế ra Đông Sơn?
Tất cả còn chờ. Nơi phát hiện được di chỉ văn hóa
trước chẳc gì đã là địa bàn phát tích duy nhất cùa nền văn
minh đó.
So với Sơn Vi (Phú Thọ) cương vực Huế lý tường
hơn nhiều. Huế gần biển, ấm áp, lắm sông ngòi, đâm phá,
lẳm núi non hang động. Biển với lẽn Trường Sơn và
Trường Sơn vươn ra biển làm điểm cặp gỡ kỳ tú ngàn đời.
Trong cái vòng cung ôm biển. Huế ờ vị trí hàng đầu nhô ra
đại dương. Huế có Sơn Vi là phải. Tiếc ràng phát hiệp
nỉìẫii nhiên vè sự xuất lộ ''end choppe” loại hình Sơn Vi ở
13
làng Ngọc Hồ không được đế ý. Tiếp sau Sơn Vi, Huế có
đầy đủ ba kỳ cùa thời đá mới. Dông Sơn và Sa Huỳnh từ
trong ra, ngoài vào hay tự ba kỳ đó mà nên? Chưa biết
quan tâm thì chưa thể trả lời được. Nhung đã có Đông Sơn,
có Sa Huỳnh là có liên minh bộ lạc, bộ tộc và có thể cũng
đã trải qua các giai đoạn mà Kinh Dương Vương, Lạc
Long Quân, Hùng Vương, An Dương Vương làm thù lĩnh.
Âu Lạc bị chiếm. Nghìn năm Bắc thuộc các quan Thứ sử,
Thái thú khó với tay qua dải Hoành Sơn. Huế nằm ngoài
tầm đô hộ nhiều ngày hơn. Nhờ thế nước Hồ Tôn có lè là
tiền thân cùa Vương quổc Champa ra đời tách khỏi Việt
Thường Thị. Đèo Ngang từ quy ước phân vùng nội bộ
nghiễm nhiên đóng vai biên cương phía bắc cùa Vương
quốc mới này. Chăm pa hưng vong. Huế thăng trầm theo
dòng lịch sử.
Bởi nhờ có Hoành Sơn mà Huế không đậm văn
minh Trung Hoa cổ đại. Bởi vướng Cù Mông, Ngãi Lãnh
(Hải Vân), Huế gắn bó với nền văn hóa Ẩn Độ cổ đại
nhưng không thật vẹn toàn. Huế đứng giữa hai nền văn
minh ấy. Huế gặp gỡ, tiếp thu cả hai. Vô thức nhiều hơn
hữu thức. Cái thế của Huế làm nên cái lý cùa Huế phải vậy.
Đông Sơn hay Sa Huỳnh gặp nhau ờ Huế, xuất phát từ Huế
cũng tự cái lý ấy, tự cái vị thế ấy.
Văn minh Ẩn Độ, văn minh Trung Hoa nhập vào đất
Huế, hòa đồng với văn hóa bản địa để làm nên bản sắc Huế
đứng giữa đất nước không thiên bắc, không thiên nam. Huế
là An - Tĩnh - Bình - Trị nối dài. Huế có gốc Thanh mà
khônq đậm Thanh. Thanh đứng đầu Trung nhưng lại thiên
14
13ắc. flue gần Nam - Nuãi mà không như Nam - Ngãi. Việt
cổ nơi Huế đậm hơn các nơi khác để Giáo sư Nguyễn Đức
Từ Chi nhìn ra món ăn Huế, món ăn Mường. Tôi được
sổng với Huế gần tròn ba mươi năm lại thấy sự bình dân
cùa Huế giốnu như sự bình dân ở xứ Nghệ - Lam Hồng,
quê tôi.
Có những người Việt từng làm quan ờ Vương quốc
Chăm pa. Có những người Chăm tham gia khởi nghĩa cùa
Hai Bà Trưng, tham gia kháng chiến chống quân Minh
xâm lược đầu thế kỷ XV.
Huế Chăm, Huế Việt từng có chung một “ bộ Việt
Thường''. Huế xa xưa là Việt. Huế xa xưa là Chăm đều
chung vai gánh hai đầu đất nước.
Vâng, Huế cổ đại, Huế trung - cận đại, Huế hiện đại
vẫn là gạch nối Bắc - Nam. Vạch nối ấy có nhiều lần bị đứt
bời sự xâm lăng ngoại tộc hoặc nội chiến vương triều.
Nhưng sau mỗi lần đứt võ đều được nối lại bền hơn, chẳc
hơn bời nhu cầu thiêng liêng cùa cả cộng đồng.
Nghìn năm Bắc thuộc, Huế đứng bên ngoài ách đô
hộ Hán, Tấn, Tùy, Đường... đành chơi với văn minh Ẩn
Độ. Những đền tháp Chăm còn đó là dấu ấn cùa một thời
ly khai đất tổ ở thế chẳng đặng đừng.
Nuô Quyền iùa được quân Nam Hán ra ngoài cõi
(năm 938) đặt cơ sờ cho các dòng họ Đinh, Lê, Lý, Trần,
Lê, Nguyễn xây dựng và cùng cổ nền độc lập tự chù. Huế
nhập về với Dại Việt trong mối tình cố cựu để làm đầu cầu
phục hưng nửa nước Việt phương Nam.
15
Huế là thành phố đang đóng vai trò tinh lỵ cùa tinh
Thừa Thiên Huế. Huế là đại diện không gian vãn hóa nằm
trong chuỗi Thanh - Nghệ - [^uế - Quảng. Với tính đặc thù
và cả với vị thế địa lịch sử, địa văn hóa, Huế mãi mãi
THƠM trong lòng non nước Việt. Xin đừng nhìn Huế qua
cơ sở hạ tầng. Bởi lồi đó không chi riêng tại Huế mà “Cả
nước yêu thương ôm Huế vào lòng” đang còn là tiếng hát.
16
Từ Vân Trạch Hòa nghĩ về
Lỉnh Thái Tư Hỉền
Làng Vân Trạch Hòa thuộc xã Phong Thu, huyện
Phong Điền nằm trên một vùng gò đồi cận sơn bên tả ngạn
(bờ bắc) sông Ò Lâu, cách trung tâm thành phổ Huế 40km
về phía tây.
v ề địa lý hành chánh, Vân Trạch Hòa thuộc tỉnh
'Phừa Thiên Huế nhưng về địa hình thì nó là dải gò đồi
đông Trường Sơn nằm giữa sông Bồ (Thừa Thiên-Huế) và
sông Thạch Hãn (Quảng Trị).
Xa xưa nơi đây còn là khu rừng già, tên cũ chưa tra
cứu được. Vân Trạch Hòa là tên mới ghép hơn nửa thế kỷ
nay do dân cư ba làng Vân Trình, Phò Trạch, Hòa Viện lên
lập nghiệp mới có. Giữa xóm Hòa Viện trên một đỉnh đồi
cao hiện còn phế tích của khu đền tháp Chăm đã đổ sập
hoàn toàn. Hơn một nửa khu vườn nhà anh Phong (trưởng
thôn) là những lớp gạch và những viên đá tảng có lõm chân
cột, nhiều khối đá vuông, vài trụ đá dài nằm bừa bộn ngổn
ngang dưới gốc mít, gốc chè.
Phía sau vườn nhà anh Phong, vốn là vườn chùa, nay
chỉ còn lại một cái am nhỏ đúng giữa vạt cỏ càn cỗi hoang
17
vu với những hố đào ngốn ngang cùa những người đi tìm
kiếm cổ vật kết hợp rà sắt thép vụn. Í3ệ thờ bàng đá lớn và
một vài mảng phù điêu hình lá đề được phát hiện tình cờ
tại khu đất này. Từ đó Vân Trạch Hòa bat đầu có tên trong
bàn đồ khảo cổ học Việt Nam. Đầu nguồn sòng Ò Lâu
phần địa bàn thuộc tỉnh Quảng Trị nàm phía sau Vân Trạch
Hòa, ngày trước có cụm tháp Hội Diền, cũng kỳ vĩ lắm.
Chúng ta chưa có điều kiện điều tra thám sát loàn bộ khu
vực miền tây hai huyện Hải Lăng (Quảng Trị) và Phong
Điền (Thừa Thiên Huế) nhung qua sự hiện diện hai phế
tích cùng một loại hình kiến trúc đền tháp Hội Điền - Vân
Trạch Hòa cũng đù gợi nên một vùng thánh địa Chăm pa
trong quá khứ.
Nếu ta kẻ một đường thẳng từ giữa Hội Điền - Vân
Trạch Hòa qua trung tâm Thành Lồi (có lẽ là Khu Túc, hay
Phật Thệ) nay thuộc xă Thủy Biều, Thành phố Huế thì đinh
đồi Hà Khê nơi có chùa Thiên Mụ với núi Linh Thái bên
cửa biển Tư Hiền (Tư Dung, Tư Khách) mà trên đỉnh có
tòa tháp Chăm một thuở uy nghi cùng nằm trên đường
thẳng này. Khoảng cách từ Vân Trạch Hòa đến thành Lồi
tương đương khoảng cách từ thành Lồi đến cửa biển Tư
Hiền - Linh Thái (xấp xi 40km mỗi bên).
Người xưa đã lập thánh địa nằm trong hệ quy chiếu
này chăng?
Ô Lâu - Ò Châu, sông Bồ - Ngũ Bồ là những địa
danh vương vấn bên dòng sông hiện thời còn đó như nhắc
ta một thuở huy hoàng đấqua.
Nhữníỉ phế tích dền. iháp cố Chămpa dày đặc trên
đất Huế từ Phong Hòa. Phone Thu, Phong Mỹ. Phong Sơn,
Phonu Hiền, Phong Chương, Quảng Vinh. Quảng Thành,
Quảng Thọ, Hương Xuân. Hương Toàn, Hương Vinh,
Hương Long, Hương Hồ, Thủy Biều, Thủy Phương, Phú
Diên. Vinh Hà, Vinh Thái, Vinh Hiền, Lộc Vĩnh, Lộc
Hài... cho ta nhìn lại một thuở Lâm Ẩp - Hoàn Quốc xa
xưa. Các xã Phong Thu, Phong Sơn, Phong Mỹ đứng đẩu
nguồn sôníỉ 0 Lâu, sông Bồ, qua Thành Lồi nhìn ra cửa Tư
Hiền, giống như Thánh địa Mỹ Sơn đứng đầu nguồn sông
Thu I3ồn qua Trà Kiệu nhìn ra biển Hội An.
Sự nổi kết tây - đông, núi - biển trong tâm thức tín
ngưỡng chịu sự chi phối cùa Ấn Độ giáo, Phật giáo hằn lên
trong lổi bổ cục xây dựng đền tháp Chămpa theo hệ quy
chiếu cổ điển này.
Sumêru - Hương Thủy hải luôn luôn là cặp song sinh
trong quá trình sáng tạo miếu đền chùa tháp.
Vân Trạch Hòa vẫn ngổn ngang gạch đá, dân đi dũi
đất thăm tìm cùa quý vẫn lự do hành nghề. May mà cái bệ
thờ quá lớn chúng chỉ sờ vào vài cụm tượng góc thôi. Chi
sờ là nói lên tai họa chưa nặng lắm nhưng cũng đù bịt mắt
những người thiện chí hiền lành muốn nhin về dĩ vãng.
Những góc bị mất là gì, ra sao ngoài những người có trình
độ “văn hóa ăn cẳp” lành nghề trực tiếp làm việc đó không
ai biết.
Bệ thờ ba tầng ghép bởi hai khối đá có mặt bằng hình
vuông và các mặt bôn thẳng đứng hình chừ nhật. ĩầng
dưới và tầng thứ hai là một khối đá được the hiện nhiều
19
cụm iượim nừa tròn nứa phù diêu (chù vếu ở bổn uóc và
bốn mặt dứnu). 'ỉ ầii” dirói. có độ cao trunii bình là I 55mm,
chiều dài là 1 170mm. Tầng thứ hai có chiều cao trung bình
là 95mm. chiều dài là 870mm, chù yếu để làm điểm tựa
cho các cụm tượna ờ tầng dưới nhô lên dồng thời làm đế
định vị cho tầng ba (trên). Cạnh trên của tầng hai này được
khẳc sâu vào 20mm làm thành một gờ chìm chạy quanh
bốn mặt. Giữa mặt bằng tầng hai được đục một ô vuông
sâu 25mm, rộng 566mm.
Tầng ba (trên cùng) là một khối đá vuông mồi cạnh
mặt vuônti là 565mm, cao toàn khối là 280mm. Viết “toàn
khối”, bời nếu tách tầng ba ra mà xét thì có ba phần: thân,
dai. chân. Thân cao I90mm, bốn mặt đều có bốn hợp thể
phù điêu. Mồi hợp thể đều có ba mảng cân đối. Dai là một
gờ nổi ra khỏi thân 30mm, rộng 40mm, vừa làm đế cho
bốn hợp thể phù điêu vừa trang trí như là giới hạn để dễ
phân định với hai tầng dưới. Chân tầng ba tính từ gờ nổi
xuống cạnh đáy là 50mm, một phần (25mm) ngập sâu vào
lòng ô vuông cùa tầng hai (giữa), còn lại 25mm là khoảng
cách tách đai ra khỏi mặt bàng đế (tầng hai).
Bệ thờ Vân Trạch I lòa được đào lên từ điểm cao nhất
của khu phe tích, có lẽ đó là trung tâm lòng tháp. Trên bệ
thờ có một khối đá hình tháp Ai Cập, chia thành hai phần.
Trên là một khối chóp, bốn mặt là bốn lam giác gần đều có
các cạnh dài 500mm. Dưới là một khối chữ nhật có chiều
cao 1 lOmm. chiều rộng 350mm. như một cái mộng đơn.
Cà hai phần có chiều cao tổng cộne là 470mm. Nóc khối
chóp tam tiiác khôtiíỉ đều, bởi hai góc bên khoảng 60 độ.
hai ỊZÓC còn lại có một đoạn n.uan.í» nối khoàn.u 20mm. Nhìn
20
toàn khối chóp uiốnu như một cái bánh lì uhép bởi hai hình
tam giác đều đối xứng và hai hình thang (cạnh trên rất
imấn = 20mm) cũniỉ vậy. Tôi tmhĩ ràng đây là khối đá úp
nóc tháp vừa chốnu dột vừa tạo mũi nhọn cho đinh tháp vút
lên cao.
Theo vị trí đặt bệ thờ này tại phònu Irưim bày cùa
Bào tàna Lịch sử tỉnh Thừa Thiên-Huế (trườnu Hàm Nízhi
cũ - số 3 đirờnu 23 tháníi 8) thì mặt hướn« ra cửa được coi
là mật ngoài có mười hai hợp thể trang trí. Hai góc bị đục
mất còn lại mười nhóm như sau:
Nhóm giữa là ba tượng người ngồi trên lưng một con
chim lớn đang gianti rộng cánh cùa tư the bay (tầng dưới).
[ỉên trái (trừ góc) có hai chim ngồi trong cửa (nhìn
chính diện) hai bên một vòm cuốn dạng chữ u ngược.
Trong vòm cuốn là một nữ thần đứng chắp hai tay trước
ngực. Ba nhóm bên phải (từ góc) cũng vậy.
Tầng trên có ba nhóm: hai bên là hai ô vuông được
trang trí chạm nổi bốn cạnh, ờ giữa ô vuông lớn đó là hai ô
vuông nhò đồng tâm. Giữa hai ô vuông lớn đối xứng hai
bên là nhóm phù điêu chính gồm một vòm cuốn gần tròn
bao chuníĩ quanh tượng người ngồi hai chân xếp tư thế kiết
íĩià. tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm lá phưón.
Mặt trong có lẽ là mười bốn nhóm, nhưrm bị đục
mal một nhóm. G iữa là người níiồi trên voi. Phía trong
sau lưníỉ voi là một người ngồi trong vòm cuốn tay chap
trước nuực. chân phải chốim. chân trái ở tư thế bán íìià.
( j ó c t rá i m ặ t t r o im chung v ớ i ÍZÓC p h ả i mặt bên phải là
21
một khối lượng dưới có hai con vật dạng nhân sư và trâu.
Irên là ba pho tượiiíỉ người. 1'ượng giữa (chính góc) ngồi
chống chân phải, tay phải cầm lích trượng, tay trái chổng
xuống bệ ngồi (sát mông). Hai tượng bên chẳp tay đảnh
lề. Tượng bèn trái chống chân phải, tượng bên phải chống
chân trái. Góc phải mặt trong chung với góc trái mặt bên
trái của nhóm tirợng dưới là hai con vật có lẽ là nhân sư
với lẻ giác. Phần trên bị dục gãy. Hai bên nhóm voi là hai
tượng nữ thần đứng đảnh lễ trong hai vòm cửa kết bời các
lá nhT và bổn con chim, đối xứng từng đôi qua hai tượng
nữ thẩn. Tầng trên giữa là tượng người ngồi kết già, hai
tay đặt trên hai đầu gối như bắt quvết, trong nửa vòm
cuốn gần tròn. Hai ô vuông trang trí lá quỳ, hoa lựu đối
xứng như mặt trước.
Mặt bên trái cũng có thể là mười bốn nhỏm. Nhóm
giữa là một người ngồi trên tòa sen kép đặt trên lưng bò.
Phía trong có hai nhóm trong hai vòm cuốn chừ u ngược là
hai người ngồi đảnh lễ. Người ngồi bên trái chống chân
trái, người ngồi bèn phải chống chân phải. Góc bên trái
chung với góc bên phải mặt trong. Góc bên phải chung với
góc trái mặt ngoài (đã mất). Ba nhóm tượng trên lưng bò
đã bị mất. còn lại ba tòa sen kép. Tượng giữa tầng trên bổn
tay. Hai tay giơ ngang tai, bên phải cầm tâm ấn, bên trái
cầm một khối bầu dục. vẫn có hai ô vuông, hai tượng nữ
thần đứnu và bốn con chim ngồi đối xứng từng cặp như ba
mặt bên.
Mặt bôn phải có thể phân thành mười ba nhóm. Bốn
chim ngồi, hai nữ thần đứnu như các mặt bên. Góc trái
chunii với tzóc phải mặt ngoài là ngựa và imười đã bị đục
22
mất mới thu lại. Góc phải chung với góc trái mặt Irong là
nhân sư chung với trâu đỡ ba pho tượng như đã trinh bày.
Mưu ý mặt này là phần uiữa có ba tầng tượng. Tượng tầng
trên ba đầu, hai tay đặt lên hai đầu gối ở thế kiết già. Tay
trái cầm hồ lô. Tay phải cầm chùm hoa. Bẽn níỉoài hai tay
có hai tượnu người nhỏ quỳ một chân, mông ngồi lên bàn
chân còn lại. Lớp tượng thứ hai có ba người ngồi trên ba bệ
riciiü đều chốnu một chân. Tượng iỉiừa và tượng bên trái
chốim chân phải, tượng bên phải chống chân trái. Riêng
tượng giữa ngồi trôn đài sen đơn, to cánh và rộng, phía sau
có hai dáng nmrời như gợi ý về một “ Bảo tọa” với ba lớp
nmrời: ỉ)ức Phật, chư vị Bồ '1'át với chúng sinh. Lớp tượng
dưới là một nmrời níỉồi kiết già, tay phải cầm tích trượng,
tay trái đặt lên đầu uối trái. Hai bên có hai người già tóc và
râu dều dài đang hạ gối đảnh lễ. Có lẽ đây là sự mô phỏng
truyền thuyết về các tu sĩ Bà La Môn giáo đã được giác
ngộ Phật.
Hiện vật Vân Trạch Hòa, ngoài bệ thờ, chóp tháp còn
có một nửa phù điêu hình lá đề cao 860mm, cạnh đáy còn
lại 600mm (dưới đế). Bên trong là tượng một người ngồi
lên gót chân trái, chân phải chống ngập ngừng. Hai tay
trước chấp lễ. hai tay sau giơ ngang tai. Bên trái có một trụ
dạng tích trượng. Phía trên lay trái sau là một tâm ấn có
chừ thập càn ờ giữa. Phía trên tay phải sau là một khối nổi
nhỏ «iổno như ngọn lừa. Dirới tượng người còn có một con
lợn quỳ mẹp xuốnu sát iiờ gáy (có lẽ không phải tê giác).
Toàn bộ các nhóm tượng dường như đều đặt trên các
tòa sen dưới dạng kiết già, trích tượng, tâm ấn, giáo huấn,
đánh le. giác ngộ. với các hinh tượng Tây Phương Tam
23
Thánh. Mã Minh Đại Sỹ, Đại Thế Chí... gợi lên troniỉ tôi
về Vân 'I rạch Hòa như là mộl bộ phận cùa Thánh Địa Phật
giáo, đế từ biển Linh Thái trông lên phía Thành Lồi người
ta dễ tưởng thấy hùng vĩ một dải Sumcru hùng vĩ. Và, từ
núi Thất Thế Giới qua Vân Trạch Hòa - Khu Túc (Thành
Lồi) nhìn về phía Linh Thái thấy Hương Thủy Hải mênh
mông.
Huế thấm đẫm môi trường thiền lừ những điều
như thế.
24
Tháp và am Liếu Cốc
Tháp và am Liễu Cốc tọa giữa xóm Bàu Tháp, làng
Ucu Cốc Thượng, xã Hương Xuân, huyện Hươiig Trà. cách
truny tâm thành phố Huế lOkm về phía bẳc - tây - bắc.
Liễu Cốc xưa là một làng lớn, đất rộng người
thưa, địa thế nhiều cấp độ: núi, đồi, gò, biền, bàu liên
hoàn từ dãy Thế Giới sơn ra đến gần sông Bồ. Liễu Cốc
có một vùng bình nguyên rộng góp phần làm nên vựa
lúa H ương Trà.
Ngày xưa tuyến thiên lý từ phía bắc vào, vượt qua
sôniỉ Ò Lâu, men theo bờ phá Tam Giang nối Sịa (xã
Quáng Phước) với thành Hóa Châu (Lý Thành) nay thuộc
xã Quàng Thành rồi đến Thanh Hà - Bao Vinh (thương
càng cổ) xã Hương Vinh mới sang sông Hương bằng đò
ngang ở bến gần chợ Được thuộc làng Thụy Lôi (nay là
phường Phú Hòa, Phú Cát, Phú Hiệp, thành phổ Huế). Nếu
đi đưừnu thủy thì xuống bến Ò Lâu rồi theo phá Tam
Giang xuôi cửa Tư Hiền vượt Hang Dơi dưới chân Ngãi
Unh (sau gọi là Ải Vân).
Tuyến đường Thiên lý ấy cho các lớp imười “ nam
tien" thấy mà quen dần những dền, tháp hùng vĩ, những
vùnu Thánh địa Liy nghi cùa một thời Chămpa.
25
Từ Phong Nha. Lộ Sơn, Dại Hữu (Ọuáng ỉỉình) đến
An Xá, Dương Lệ. Hội Diền (Quảng Trị) rồi Phong Hòa,
Phong Thu, Phong Sơn. Phong Mỹ, Phorm Hiền, Quảng
Vinh, Thiên Mụ, Thành Lồi... và Linh Thái đứng trên một
tầm cao giữa mây xanh nước biếc bên đại dương mênh
mông (Thừa Thiên - Huế)... như là những gợi ý ứng xử ban
đầu cho những người đi mở nước trên vùim đất lạ.
Các lớp người ấy hoặc đi bộ hoặc đi thuyền đều
qua Hóa Châu và có lẽ (nếu cần) họ còn nghĩ lại. Thành
Rí cùa một thời Châu Rí rồi trở nên thành Hóa Châu cùa
một thời Thuận - Quảng làm “đầu cầu” vào nam cùa xứ
d Ằn g t r o n g .
Tháp đôi Liều Cốc đứng trên một gò đất cao giữa
bình nguyên hữu ngạn sông Bồ cách Hóa Châu thành hơn
một cây số về phía chánh tây. Đứng ở 'T h àn h Lý” ấy nhìn
vào Liễu Cốc và ngửng cao lên nóc tháp ta sẽ gặp ngay
đinh trung tâm cùa dãy luìi Thất Thế Giới xưa là một khu
rừng già uy linh vời vợi.
Cuối Ihế kỳ XIX, người Pháp mở con đường xuyên
Đông Dương. Nay là quổc lộ số Một. Quốc lộ số Một chạy
qua làng Liễu Cốc nên mới sinh ra Liễu Cốc Thượng và
Liễu Cốc Hạ. Xóm Bàu Tháp do một người ở Liễu Cổc
Thượng chiếm trước, khai canh, thật ra là khai khẩn trên
một địa hình cồn - bàu đã bỏ hoanu hóa, nên dù nam phía
đòng quốc lộ Một vẫn là đất Liễu Cốc Thượng. Nhà thờ họ
Nguyễn Văn quay lưng với Liễu Cổc Hạ mà nhìn ra Tháp
Dôi, nhìn ra bàu như là những người đi tiên phong làm trụ
mốc giữ đất cho làniỉ.
26
I háp Dôi tọa lạc trên gò đất cao như hai “ Mẹ Con"
dứng bên nhau cùng nhìn ra phía biên cừa Sình. Dó là
hướng chính đông. N yày xưa đây là một cánh đồng rộng
làm kho ngũ cốc cho cả làng Liễu nên hai ngôi tháp
đứng lồng lộng tỉiừa irời mây và sóntỉ lúa càng hoành
tráng kiêu sa.
Tháp nhỏ đímg bên trái và cách tháp lớn khoảnu 2 3m, có lẽ như cặp tháp Dôi ờ huyện Tuy Phước tinh Bình
Dịnh trước khi vào thành phố Qui Nhơn (xưa là Cri Bonei).
Một đoạn Bàu nàm ngay phía bắc lừ tây sanc đông
rồi mờ rộim mặt nước ờ hướng đôim nam để nối với sông
Bồ. Bởi có một đoạn nằm ngang phía bấc tháp nên đã có
niiười tườnu dó là '1iộ thành h ấ ' chong sự tan công lừ
hưứnti bẳc. Dung tục hóa một công trình kiến trúc văn hóa
dền tháp uy nghiêm Ihành pháo đài, lô cốt chi có người
thời ta nhờ tư duy chiến tranh mới có.
Tháp Dôi Liễu Cốc đã sụp đổ lừ lâu, chỉ còn một
phần Ihân tháp lớn đửiig lại làm chứng tích một thời kiêu
sa kỳ vĩ.
Ngàn năm, hoặc hơn thế đã qua. những viên gạch vồ
bị phũ phàng giữa nắng mưa với bao tuế nuuyệt vẫn rắn rỏi
như cố ui ừ những gì là quá khứ. Có lẽ cả Thừa Thiên - Huế
hay rộng hơn. cả Bình - Trị - Thiên chi còn Liều Cốc. chì
còn Tháp ỉ)ôi ở dây đang đứng được một phần thân thể.
Hình như dó là máng thân phía sau. Chỗ đống gạch nổi cao
nhất mà ta có thê Ico lên được dường như là lòng tháp. Hai
góc còn lại làm giới hạn thân sau cho ta một ước đ...
 





