Định hướng nghề nghiệp 4.0 Xu hướng chọn nghề hiện nay
Nam Bo voi trieu Nguyen va Hue Xua - Nguyen Dac Xuan

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 07h:46' 18-03-2024
Dung lượng: 7.7 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 07h:46' 18-03-2024
Dung lượng: 7.7 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
LỜI GIỚI THIỆU
Quy cách biên tập
Lời nói đầu
Phần I. Chuyện kể
Phụ nữ Nam kỳ làm vợ các vua Nguyễn
Các ông Phò mã người Nam bộ
Công chúa Ngọc Cơ - cháu ngoại tỉnh Bắc Ninh làm dâu Nam Bộ
Vì sao nhà Nguyễn kiêng tên “Hoa”?
Hoàng thái hậu Từ Dũ - một bậc mẫu nghi thiên hạ
Phan Thanh Giản lấy thân mình cản bánh xe vua
Diệp Văn Cương làm rể xứ Huế, làm thầy dạy Pháp văn đầu tiên cho người Huế
Con gái Gò Công làm Hoàng hậu cuối cùng của triều Nguyễn
Chuyện tình “Hương Giang dạ khúc” của Lưu hữu Phước
Nghệ sĩ sân khấu Kim Cương có phải là cháu nội vua Thành Thái không?
Nữ nghệ sĩ Kim Cương có phải là cháu nội vua Thành Thái không
Phần II. Bút ký
Giếng Ngự ở hòn Đảo Ngọc
Nguyễn (Phúc) Ánh - Nguyễn Vương Hoàng đế Gia Long trong đời sống tâm linh của người
dân An Giang
Về thăm Nước Xoáy (Hồi Oa) - nơi khởi đầu thời kỳ Trung hưng của nhà Nguyễn tại Nam Bộ
Ngày xuân đi thăm phủ thờ Tả tướng quân Lê Văn Duyệt tại Huế
Đi viếng nhà thờ - lăng mộ Công chúa Qui Đức & Phò mã Phạm Thuật ở Huế
Bạch Dinh ở Cap Saint-Jacque (Vũng Tàu) “Dinh vua Thành Thái”
Phần III. Nghiên cứu
Năm 1783, Nguyễn Ánh có chạy ra Côn Đảo hay không?
Cuộc kháng chiến chống Pháp của Trương Định không nằm ngoài chủ trương của vua Tự Đức
'Xuất' và 'Xử' trong cuộc đời chính trị của Trương Vĩnh Ký
Souvenir de la vie d'un père Pour ses enfants
Phần IV. Hỏi đáp
Các chúa Nguyễn bắt đầu mở nước về phía Nam như thế nào và khi nào kết thúc?
Có phải niên hiệu Gia Long, lấy từ tên Gia Định và Thăng Long không?
Nơi nào trên Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có lịch sử gắn bó với đời tư các vua Nguyễn
một cách sâu sắc?
Ở Huế có một ngôi làng của người Nam Bộ?
Phụ lục.
Khóc cho tuổi già vô dụng
Tái bút: Nói riêng với Nguyễn Đắc Xuân
Sách và tài liệu tham khảo
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN - GÓC NHÌN SỬ VIỆT
LỜI GIỚI THIỆU
Bạn đọc thân mến!
Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của riêng cá nhân nào, chính vì vậy, việc bảo tồn,
gìn giữ và phát triển lịch sử văn hóa cũng không phải riêng một người nào có thể gánh vác được,
nó thuộc về nhận thức chung của toàn xã hội và vai trò của từng nhân tố trong mỗi chặng đường
lịch sử. Lịch sử là một khoa học. Lịch sử không phải là việc thống kê sự kiện một cách khô khan rời
rạc. Bởi mỗi sự kiện trong tiến trình đó đều có mối liên kết chặt chẽ với nhau bằng sợi dây vô hình
xuyên suốt không gian và thời gian tạo nên lịch sử của một dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần trăm năm dưới ách cai trị của thực
dân, đế quốc, nhưng con cháu bà Trưng, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang
Trung... vẫn kiên trì bền chí, tin tưởng ở quá khứ hào hùng, không ngừng tranh đấu hướng tới
tương lai rộng mở vì độc lập tự do của đất nước.
Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển, ngoài việc đẩy mạnh phát triển cơ
sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật, điều quan trọng hơn nữa là phải có một nền tảng giáo dục vững chắc.
Trong đó, giáo dục về lịch sử và lòng tự hào dân tộc là cần thiết để ghi khắc trong tâm trí các thế
hệ, đặc biệt là tầng lớp thanh niên ý thức về nguồn gốc dân tộc, truyền thống văn hóa và nội lực
quốc gia, đồng thời giúp định hình góc nhìn thấu đáo về vai trò của từng giai đoạn, triều đại và
nhân vật - dù gây tranh cãi - tạo nên lịch sử đó.
Chính vì những giá trị to lớn đó, vấn đề học tập, tìm hiểu lịch sử nước nhà hiện đang là mối
quan tâm hàng đầu của Nhà nước và toàn xã hội. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Quỹ Phát triển
Sử học Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay... và rất nhiều những tổ chức khác đã và đang kiên trì con
đường thúc đẩy sự phát triển của nền khoa học lịch sử quốc gia, phổ biến tri thức lịch sử, góp phần
giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc tới toàn xã hội.
Đồng hành với mối quan tâm của toàn xã hội, Công ty Cổ phần Sách Alpha - một doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, với tôn chỉ “Tri thức là sức mạnh” - đặc biệt quan tâm tới
việc góp phần nâng cao hiểu biết của người dân về truyền thống văn hóa lịch sử đất nước.
Theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu của bạn đọc cho thấy, “lỗ hổng lịch sử” ở không
ít người trẻ hiện nay hoàn toàn có thể bù lấp một phần dựa trên nhiều nguồn tư liệu, công trình
nghiên cứu, sách cổ sách quý hiện đang được các Viện nghiên cứu, các tổ chức, cá nhân lưu giữ. Để
chung tay tái hiện một cách rõ nét những mảnh ghép lịch sử dân tộc, Công ty Cổ phần Sách Alpha
đã triển khai dự án xuất bản mang tên Góc nhìn sử Việt với mục đích xuất bản lại và xuất bản
mới một cách có hệ thống các công trình, tư liệu, sách nghiên cứu, sách văn học có giá trị… về lịch
sử, bước đầu hình thành nên Tủ sách Alpha Di sản.
Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một trong những sản phẩm đầu tiên của dự án này.
Xin trân trọng giới thiệu.
CÔNG TY CP SÁCH ALPHA
Tủ sách “Góc nhìn sử Việt” ra đời mục đích giới thiệu đến bạn đọc những tác phẩm hay, có giá
trị, đồng thời góp phần bảo lưu gìn giữ những giá trị văn hóa của đất nước. Để thực hiện bộ sách
này, chúng tôi tuân thủ một số quy cách sau:
1. Bảo toàn văn phong, nội dung nguyên gốc, từ ngữ mang đậm văn hóa vùng miền trong tác
phẩm (trừ khẩu âm).
2. Biên tập đối chiếu trên bản gốc sưu tầm được và có ghi rõ tái bản trên bản năm nào.
3. Chú thích từ ngữ cổ, từ Hán Việt.
4. Tra cứu bổ sung thông tin: tiểu dẫn, tiểu sử, sự kiện, nhân vật, phụ lục (nếu cần thiết)...
5. Sửa lỗi chính tả trong bản gốc.
6. Giản lược gạch nối từ ghép, khôi phục từ Việt hóa tiếng nước ngoài khi có đủ tài liệu tra cứu
tin cậy (trừ trường hợp từ ngữ đó đã dịch thành thuần Việt).
7. Trường hợp thông tin lịch sử trong sách có sai lệch so với chính sử, chúng tôi sẽ chú thích
hoặc đăng phụ lục ở cuối sách.
8. Một số hình ảnh trong sách gốc bị mờ, chất lượng kém… chúng tôi sẽ đăng bổ sung - thay thế
các hình ảnh có nội dung tương tự, chất lượng tốt (nếu có).
Mong đón nhận những ý kiến đóng góp của độc giả, hỗ trợ chúng tôi hoàn thiện tủ sách này.
Alpha Books
Lời nói đầu
N
ếu Thanh Hóa là nơi xuất phát của 9 đời chúa Nguyễn thì Nam Bộ là nơi trung hưng
mở ra thời kỳ 13 đời vua Nguyễn ở Thuận Hóa - Phú Xuân. Do đó nghiên cứu triều
Nguyễn và Huế xưa không thể không nghiên cứu lịch sử Nam Bộ và ngược lại không thể
nghiên cứu lịch sử Nam Bộ nếu không nghiên cứu triều Nguyễn.
Tôi là một nhà nghiên cứu không chuyên, vì ham thích lịch sử mà nghiên cứu chứ chưa hề
được biên chế trong bất cứ một cơ quan nghiên cứu lịch sử văn hóa nào.
Tôi biết lịch sử Nam Bộ qua các bộ sách của Quốc sử quan triều Nguyễn như Đại Nam Thực
lục, Đại Nam Liệt truyện, Đại Nam Nhất Thống Chí, Gia Định Thành Thông Chí..., các sách của
người Pháp viết về Nam Bộ thời thuộc Pháp... Đặc biệt qua các thầy và các bạn người Nam Bộ
của tôi. Đó là các thầy Vương Hồng Sển, Trần Văn Khê, các bạn Nguyễn Văn Y, Sơn Nam, Lý
Việt Dũng, Bảo Hội. Địa bàn nghiên cứu của tôi chỉ quanh quẩn ở miền Trung. Việc đi điền dã ở
Nam Bộ của tôi có tính bất chợt hay do yêu cầu của một địa phương nào đó mời mà thôi. Do đó
những gì tôi viết về Nam Bộ với triều Nguyễn và Huế xưa cũng có tính bất chợt nên thiếu hệ
thống, thiếu toàn diện. Từ sau năm về hưu (1998), tôi dự định sẽ điền dã Nam Bộ một thời gian,
viết bổ sung những gì cần viết về Nam Bộ. Anh Lý Việt Dũng cùng ở trong Hội đồng Khoa học
của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học với tôi hứa sẽ đưa tôi điền dã Nam Bộ với anh. Nhưng sau
đó sức khỏe anh Lý không cho phép, lời hứa đó chỉ còn là một kỷ niệm. Tiếp đến anh Nguyễn
Phúc Bảo Hội (cháu nội vua Thành Thái, quê mẹ ở Sa Đéc, Việt Kiều Mỹ) có ý giúp tôi theo anh đi
thăm những nơi chúa Nguyễn Vương (Nguyễn Phúc Ánh, sau nầy là vua Gia Long) đã từng
“nằm gai nếm mật” ở Nam Bộ. Chuyến đi thực tế đầu tiên chúng tôi về vùng Nước Xoáy (Hồi Oa),
một địa điểm thuộc huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) - nơi còn giữ được nhiều di tích liên quan đến
Nguyễn Phúc Ánh. Tôi có bút ký “Về thăm Nước Xoáy (Hồi Oa)”. Không may sau đó ít lâu, anh
Bảo Hội qua đời đột ngột. Chuyện điền dã những nơi chúa Nguyễn Vương từng qua của tôi phải
tạm dừng.
Biết tôi tha thiết với Nam Bộ, kiến trúc sư Hồ Viết Vinh tổ chức cho tôi đi Phú Quốc, nhà văn
lão thành Vũ Hạnh chở tôi đi Gò Công, điêu khắc gia Thụy Lam đón tôi đi An Giang... Sau mỗi
lần đi thực tế tôi đều có một vài bài viết nhớ đời.
Tuy có nhiều cố gắng nhưng khi nhìn lại thì vẫn thấy “sự nghiệp cầm bút” của tôi với Nam Bộ
vẫn còn sơ sài so với thực tế lịch sử. Rất tiếc là quỹ thời gian còn lại không cho phép tôi phấn đấu
cho đầy đủ được. Để đời tôi có một kỷ niệm với bạn đọc Nam Bộ, tôi sưu tập lại tất cả những bài
tôi đã viết mà nay có thể sưu tập được in thành cuốn sách nhỏ nầy. Qua đây, cũng là một giải
đáp dành cho những bạn đọc muốn sưu tập bài viết của tôi về Nam Bộ.
Nội dung các bài viết thuộc nhiều thể loại: Chuyện kể, bút ký, nghiên cứu, hỏi và đáp, thích
hợp cho mọi tầng lớp từ người bình dân cho đến các nhà nghiên cứu.
Là người miền Trung viết chuyện lịch sử của Nam Bộ nên không tránh được sai sót trong
ngôn ngữ, tên người, tên đất ở các địa phương Nam Bộ. Kính mong được các bậc trưởng thượng
chỉ giáo những chỗ bất cập để có dịp tái bản được hoàn chỉnh hơn.
Xin đa tạ.
Nguyễn Đắc Xuân
ác chúa Nguyễn có công chinh phục và khai phá vùng đất Nam kỳ. Nhờ đó mà khi các
chúa Nguyễn mất ngôi (1774), một người cháu của các chúa là Nguyễn Phúc Ánh đã sử
dụng được nhân tài vật lực của Nam kỳ để khôi phục lại ngai vàng mở ra triều đại các vua
Nguyễn sau nầy. Các quan lại giúp cho Nguyễn Phúc Ánh lập nên Đế chế Nguyễn là người
Nam kỳ. Về sau một số con cái các quan người Nam kỳ làm dâu (phủ thiếp), làm rể (phò mã) các
vua Nguyễn. Nhiều bà Phủ thiếp có chồng, có con, có cháu được nối ngôi vua, được phong Hoàng
hậu, Hoàng Thái hậu, Thái hoàng Thái Hậu. Nhiều bà có đạo đức, có học vấn, có tuổi thọ cao nên
ảnh hưởng lớn đến đời sống cung đình.
Vua Gia Long có 21 bà vợ còn biết tên, nhưng chỉ có 3 người được Nguyễn Phước Tộc Thế Phả
ghi tiểu sử. Đó là các bà: Thừa Thiên Cao Hoàng hậu Tống Thị Lan, người Huế gốc Thanh Hóa; bà
Thuận Thiên Cao Hoàng hậu Trần Thị Đang người Huế; bà Đức Phi Lê Thị Ngọc Bình con vua Lê
Hiển Tông, em cùng cha khác mẹ với Ngọc Hân Công chúa. Mười tám bà còn lại nhờ có con nên
còn nhớ tên. Nhiều người khác không có con không ai nhớ tên. Có lẽ trong số những người làm vợ
vua Gia Long có tên (không có tiểu sử) hoặc quên tên có nhiều người gốc Nam kỳ. Một người tài
hoa và đam mê như vua Gia Long mà suốt 25 năm hoạt động ở Nam kỳ lẽ nào không có được một
mối tình!
Vua Minh Mạng có hàng trăm bà vợ, nhưng Nguyễn Phước Tộc Thế Phả cũng chỉ ghi tên 43
bà (có con), trong số 43 bà đó cũng chỉ có một số ít bà được ghi tiểu sử. Trong số ít bà được chép
tên đó có 4 người phụ nữ Nam kỳ. Đó là:
1. Bà Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa (1791 - 1807), người huyện Bình An, Biên
Hòa (nay là Thủ Đức TP. HCM), con gái Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi. Năm 15 tuổi, bà được vua
Gia Long và Hoàng hậu Thuận Thiên tuyển chọn làm phủ thiếp cho Hoàng tử Đảm (sau nầy là vua
Minh Mạng). Bà Hoa có tính dịu dàng, thận trọng, một lòng hiếu kính. Bà sinh Miên Tông (sau
nầy là vua Thiệu Trị) được 13 ngày thì mất giữa tuổi 17. Vì kỵ húy tên Hoa của bà mà các vua
Nguyễn cấm thần dân không được dùng từ “hoa”. Những tên có từ hoa đều phải đổi như: Cầu Hoa
thành cầu Bông, tuồng hát Phàn Lê Hoa thành Phàn Lê Huê hay Phàn Lê Ba, cửa Đông Hoa
thành cửa Đông Ba, tỉnh Thanh Hoa thành tỉnh Thanh Hóa...
2. Bà Thục tần Nguyễn Thị Bảo (1801 - 1851), người Gia Định con quan Tư không
Nguyễn Khắc Thiệu, bà vào hầu vua Minh Mạng từ lúc còn ở Tiềm Để(1), sau bà được tấn phong
Thục tần. Bà Nguyễn Thục tần sinh được 4 hoàng tử, nhưng chỉ nuôi được một người là Miên Thẩm
(1818 - 1870) và 3 bà công chúa: Vĩnh Trinh (1824 - 1892), Trinh Thận (1826 - 1904) và Tĩnh Hòa
(1830 - 1882). Về sau cả bốn người con của bà trở thành những nhà thơ nổi tiếng nhất ở cố đô Huế.
Đó là các ông bà Tùng Thiện Vương, Qui Đức, Mai Am, và Huệ Phố. Ngoài thơ, bốn người cháu
ngoại Nam kỳ nầy còn giỏi nhạc (trong phủ Tùng Thiện có lập một đội nhạc riêng).
3. Bà Hòa tần Nguyễn Thị Khuê, húy Bích Chi, người Phúc Lộc, Gia Định, con gái Chưởng
cơ Nguyễn Văn Thanh, trấn thủ tỉnh Quảng Yên. Bà sinh 10 người con: 4 hoàng tử và 6 hoàng nữ.
4. Bà Cung nhân Nguyễn Thị Nhân, người thứ 38 trong danh sách 43 bà phi có tên của
vua Minh Mạng, quê ở Gia Định, con gái của Chính đội Nguyễn Văn Châu. Bà là sinh mẫu của
Hoàng tử Miên Ký (1838 - 1881). Miên Ký là một thân thần giỏi văn chương triều Tự Đức nên được
phong là Cẩm Quốc công.
Vua Thiệu Trị có 3 bà vợ người Nam Bộ:
Hình 1. Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (1810 - 1901) - Ảnh tư liệu của Bảo Hiền
1. Bà Thái Hoàng hậu Từ Dũ, tên thật là Phạm Thị Hằng, người Gò Công, con gái
Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng. Thuở nhỏ bà thích đọc sách, thông kinh sử, tính rất hiếu
hạnh. Thuận Thiên Cao Hoàng hậu nghe tiếng bà hiền đức cho tuyển vào cung hầu Miên Tông
(sau nầy là vua Thiệu Trị). Vì đức hạnh và thuận thảo nên bà được vua rất sủng ái. Bà là người kính
cẩn, nghiêm trang, cử chỉ hợp lễ. Những lúc có khánh hạ, triều bái trong cung lúc nào bà cũng giữ
đúng lễ nghi, mọi người trông dung mạo bà đều phải kính nể. Thời Thiệu Trị, bà giữ chức Thượng
nghi kiêm cai quản tất cả các bà trong Lục nghi. Bà là tấm gương cần kiệm, nhân hậu, có ảnh
hưởng lớn đối với vua Tự Đức. Bà ra đời thời Gia Long (1810), được tuyển vào cung thời Minh
Mạng, làm vợ vua Thiệu Trị, làm mẹ vua Tự Đức, và sống tuổi già trải qua các đời Dục Đức, Hiệp
Hòa, Kiến Phước, Hàm Nghi, Đồng Khánh và bà mất (năm 1901) thời Thành Thái (1889 - 1907)
(gần 10 đời vua). Bà đã chứng kiến những sự kiện lịch sử lớn của đất nước và trong Hoàng cung xảy
ra suốt chiều dài thế kỷ XIX.
Người Nam kỳ, đặc biệt là người Gò Công hết sức trọng vọng bà, dù đường sá xa xôi khi có
những của ngon vật lạ như mắm tôm, gỏi cá, trái sầu riêng, giáng châu (măng cụt), các giống lúa
gạo thơm... họ đều đem ra dâng tiến cho bà. Người Huế có giống gạo thơm, biết làm mắm tôm, biết
ăn gỏi cá từ ấy.
2. Bà Lệnh phi Nguyễn Thị Nhậm, người An Giang, con của Kinh môn Quận công Nguyễn
Văn Nhân, bà được tiến cung cùng một lần với bà Phạm Thị Hằng con gái Phạm Đăng Hưng, nhờ
tước của cha nên Lệnh phi có vị thứ trước bà Phạm Thị Hằng. Tiếc cho Lệnh phi chỉ sinh được một
hoàng nữ là Nhàn Yên (An Thạch Công chúa) nên về sau bà có thứ bậc sau bà Hằng.
3. Bà Đức tần Nguyễn Thị Huyên, người gốc Thừa Thiên nhưng từ đời ông đã vào Gia
Định, con gái Cai cơ Nguyễn Đức Xuyên. Bà là sinh mẫu của Hồng Diêu (1845 - 1875) hoàng tử thứ
25 của vua Thiệu Trị.
Vua Tự Đức có một bà vợ người Nam Bộ:
Đó là bà Học phi Nguyễn Thị Hương, người Vĩnh Long, con ai không rõ. Năm 1870 bà
theo lệnh vua Tự Đức nhận công tử Ưng Thị mới 2 tuổi - con trai Hường Cai - làm dưỡng tử, sau
nầy Ưng Thị được tôn lên làm vua tức vua Kiến Phước.
Tám ông vua sau Tự Đức (từ Dục Đức đến Khải Định) không vị nào có phi tần người Nam kỳ
cả.
Riêng ông vua cuối cùng Bảo Đại đi học Pháp về cưới bà Hoàng hậu Nam Phương Nguyễn
Hữu Thị Lan (1914 - 1963) con gái nhà hào phú Nguyễn Hữu Hào ở Gò Công. Bà sinh được 2
hoàng tử và 3 hoàng nữ: Bảo Long (1936), Phương Mai (1937), Phương Liên (1938), Phương Dung
(1942), Bảo Thăng (1943). Sau khi vua Bảo Đại thoái vị (8/1945), bà sang Pháp sống với các con
cho đến khi qua đời (1963).
Do ảnh hưởng của các bà hoàng có thế lực gốc Nam kỳ trong cung Nguyễn nên giọng nói sang
trọng nhất của các bà là giọng Huế pha Nam Bộ. Ví dụ các bà nói: Ba ngày tết thèm ăn một tô canh
cá phác lác. Chín từ đầu nói giọng cổ của Huế, nhưng hai từ phác lác cuối cùng nói giọng mũi của
Nam kỳ. Nhờ ảnh hưởng của các bà mà nhiều món ngon vật lạ đất Nam Kỳ được nhập về Huế.
Các ông Phò mã người Nam bộ
au khi mất ngôi Chúa vào tay quân Trịnh và nhà Tây Sơn, vào cuối thế kỷ XVIII, dòng họ
Nguyễn ở xứ Đàng Trong trung hưng được là nhờ nhân tài vật lực của Nam Bộ. Sau ngày
kháng chiến thành công, các quan lại chủ chốt của vua Gia Long là người Nam. Vì thế nhiều
hoàng nữ của các vua đầu triều Nguyễn đã hạ giá(2) cho con trai các quan người Nam.
S
Người phò mã Nam Bộ đầu tiên của triều Nguyễn là Võ Tánh - người Biên Hòa, lấy Công chúa
Ngọc Du, chị của vua Gia Long - con gái của Hưng Tổ Hiếu Khương hoàng đế. Ông Phò họ Võ đã
trung thành tuyệt đối với sự nghiệp trung hưng của nhà Nguyễn. Võ đã cùng Ngô Tùng Chu tử thủ
giữ thành Qui Nhơn, thu hút quân Tây Sơn để cho Nguyễn Phúc Ánh rảnh tay ra giải phóng Phú
Xuân hồi mùa hè năm 1801. Trong văn tế ông, vua Gia Long đã hết lời ca ngợi tấm gương tuẫn tiết
của ông. [Về sau cháu nội của ông là Hoài hầu Võ Văn Mỹ (con trai Võ Khánh) lấy Công chúa Lộc
Thành (Uyển Diễm) - con gái thứ ba của vua Minh Mạng].
Vua Gia Long có 18 hoàng nữ, nhưng chỉ có 14 người hạ giá, một nửa số đó hạ giá cho con các
quan người Nam Bộ. Công chúa Bảo Thuận (Ngọc Xuyến, thứ 5) và Công chúa Định Hòa (Ngọc Cơ,
thứ 13) hạ giá cho hai anh em ruột Nguyễn Huỳnh Toán - Nguyễn Huỳnh Thành, con Kiến Xương
Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, người Định Tường. Hạ giá được ba năm thì chồng mất, Công chúa
Định Hòa lập am ở làng Dương Xuân để ở thờ chồng. Cái am của bà được phát triển thành chùa
Đông Thuyền thành phố Huế ngày nay.
Hai công chúa An Thái (Ngọc Nga, thứ 7) và Nghĩa Hòa (Ngọc Nguyệt, thứ 9) hạ giá cho hai
anh em ruột Nguyễn Đức Thiền và Nguyễn Đức Hỗ, người Thừa Thiên đã dời vào Gia Định từ đời
ông, con của Khoái Châu Quận công Nguyễn Đức Xuyên.
Công chúa An Nghĩa (Ngọc Ngôn, thứ 10), hạ giá cho Lê Văn Yến người gốc Quảng Ngãi vào
Định Tường từ thời nội tổ, con trưởng của Lê Văn Phong, con thừa tự của Tổng trấn Gia Định Lê
Văn Duyệt. Năm 1835, xử vụ án Lê Văn Duyệt, Yến bị tội chết, bà Chúa An Nghĩa thủ tiết thờ
chồng cho đến cuối đời (1856).
Công chúa Mỹ Khê (Ngọc Khuê, thứ 12), hạ giá cho ông Nguyễn Văn Thiện, người An Giang,
con Kinh môn Quận công Nguyễn Văn Nhân.
Công chúa Ngọc Thành (thứ 16) hạ giá cho ông Hồ Văn Thập, anh ruột bà Hồ Thị Hoa - mẹ
vua Thiệu Trị, người Biên Hòa (nay thuộc Thủ Đức), con của Phúc Quốc công Hồ Văn Bôi. Về sau,
con của Hồ Văn Thập là Hồ Văn Ngoạn (có lẽ không phải con của Công chúa Ngọc Thành) lấy
Công chúa Xuân Vân (An Nhàn) hoàng nữ thứ 51 của vua Minh Mạng. Như thế trong nhà họ Hồ,
người anh làm Phò mã vua Gia Long, người em làm dâu vua Minh Mạng, người cháu làm Phò mã
vua Minh Mạng. Nhờ có nhiều người làm Hậu, làm Phò mã như thế nên ở nguyên quán Thủ Đức
triều Nguyễn cho lập nhà thờ gọi là Hồ tộc từ đường.
Vua Minh Mạng có 64 hoàng nữ, 12 người mất sớm, 52 người có gia thất, trong đó có 11 người
hạ giá cho người Nam Bộ. Chuyện Phò mã Mỹ lấy Công chúa Lộc Thành, Phò mã Ngoạn lấy Công
chúa Xuân Vân đã nói trên, 9 người còn lại là: Công chúa Vĩnh An (Hòa Thục, thứ 6) hạ giá cho
Nguyễn Trường người Bình Dương, Gia Định, con trai của Thị vệ Nguyễn Văn Lộc. Công chúa An
Trang (Trinh Đức, thứ 7), hạ giá cho Trần Văn Thạnh, người Bình Dương, Gia Định, con trai Thị
Lang bộ Công Trần Văn Tính. Công chúa Định Mỹ (Đoan Thuận, thứ 10) hạ giá cho Đỗ Tài, người
Tân Long, Gia Định, con trai Thống Chế Đỗ Quí; Công chúa Phú Mỹ (Đoan Trinh, thứ 11) hạ giá
cho Đoàn Văn Tuyển, người Đông Xuyên, An Giang, con trai Tiền phong Dinh đô thống Đoàn Văn
Sách; Công chúa Phương Duy (Vĩnh Gia, thứ 12) hạ giá cho Lê Tăng Mậu, người Bảo Hựu, Vĩnh
Tường, con Thiếu bảo Ân Quang tử Lê Văn Đức; Công chúa Tân Hòa (Đoan Thuận, thứ 13) hạ giá
cho Trịnh Hoài Cẩn, người Tân Long, Gia Định, con trai Thiếu Bảo Cần Chánh Điện Đại Học sĩ
Trịnh Hoài Đức; Công chúa Mậu Hòa (Gia Trinh, thứ 15) hạ giá cho Trần Văn Đức, người Bình
Dương, Gia Định, con trai Thống chế Tiền phong Dinh Bình Khánh Tử Trần Văn Trí; Công chúa
Qui Đức (Vĩnh Trinh, thứ 18), em Tùng Thiện Vương hạ giá cho Phạm Đăng Thuật, em út bà Từ
Dũ, người Tân Hòa, Gia Định, con trai Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng. Năm 1861, Pháp đánh
Nam kỳ, Phò mã Thuật được lịnh vua Tự Đức đi thám sát, không may ông đã chết ở trận tiền. Công
chúa thương tiếc, xin vua cho đưa xác Phò mã về Kinh và chịu đựng 10 năm khổ tiết thờ chồng.
Công chúa Phương Hương (An Nhàn, thứ 41), hạ giá cho Hoàng Văn Ban, người Bình Long, Gia
Định, con của Thự Tổng Đốc Hoàng Văn Ân.
Vua Thiệu Trị có 35 hoàng nữ, 21 người mất sớm, chỉ có 14 người thành gia thất, người đứng
đầu trong 14 hoàng nữ ấy là Công chúa Diên Phước (Tĩnh Hảo, thứ nhất), chị ruột vua Tự Đức đã
hạ giá cho Nguyễn Văn Ninh, người Bảo Hựu, Vĩnh Long, con trai Hoàng Trung hầu Nguyễn Văn
Trọng. Nhà thờ của bà có tên là Vĩnh Âm Viên ở đầu thôn Kim Long, phía bên trên đền thờ Đức
Quốc Công Từ dành cho ông ngoại của bà. Bà còn được thờ ở chùa Diệu Đế - nơi trước kia vua cha
Thiệu Trị đã ra đời.
Hình 2. Di tích Cửa tam quan Vĩnh Âm viên. Ảnh NĐX.
Có thể xem ông Nguyễn Văn Ninh là Phò mã chính thức cuối cùng của triều Nguyễn. Bởi vì
hết đời Thiệu Trị qua đời Tự Đức, một phần Tự Đức không có con, một phần Nam Bộ bắt đầu
kháng Pháp và lọt vào tay Pháp nên con trai Nam Bộ không còn cơ hội làm Phò mã nữa.
Đến triều Thành Thái (1889 - 1907), các Công chúa con vua Thành Thái còn nhỏ nên chưa có
Phò mã. Nhưng sau khi nhà vua bị tốn vị và đày sang đảo Réunion (1916), các Công chúa con vua
bị đày lớn khôn có chồng, các chàng rể ông vua bị đày vẫn được thần dân xem là Phò Mã. Ông Phò
mã người Nam Bộ nổi tiếng nhất của vua Thành Thái là luật sư Vương Quang Nhường.
Hình 3. Luật sư Vương Quang Nhường. Ảnh. Souvrains et Notabilités d' Indochine.
Luật sư Vương Quang Nhường sinh năm 1902, tại Yên Luông Đông, Gò Công. Học trường Mỹ
Tho, du học Pháp, đậu Tiến sĩ Luật khoa. Về nước làm luật sư tòa Thượng thẩm Sài Gòn. Là người
có học vấn cao, kiến thức rộng, Vương Quang Nhường được các giới thượng lưu Việt Pháp kính nể.
Ông đính hôn với bác sĩ Henriette Bùi - con gái Bùi Quang Chiêu, người quê ở Mỏ Cày. Nhưng
rồi chuyện đính hôn bất thành, không rõ trong trường hợp nào ông đi cưới bà Lương Nhàn
(thường gọi là Mệ Cưởi) – con gái thứ 16 của vua Thành Thái, em ruột vua Duy Tân... Ông Phò họ
Vương đã có công vận động thực dân Pháp cho vua Thành Thái được hồi hương (1947), rồi cùng
với Công chúa Lương Nhàn nuôi dạy các con vua Duy Tân một thời gian và cuối cùng nhận chức
Tổng trưởng Quốc gia giáo dục trong chính phủ Trần Văn Hữu và sau đó là chính phủ Nguyễn Văn
Tâm.
***
Các ông Phò mã Nam Bộ theo các bà chúa lập nghiệp ở Huế, và lập các chi nhánh của họ hàng
mình ở Kinh đô. Con cháu các Phò mã và các quan lại người Nam Bộ khác là một bộ phận quan
trọng của cư dân Huế ngày nay. Cố họa sĩ Phạm Đăng Trí - một hoạ sĩ Huế nổi tiếng, xuất thân
trong gia đình một ông Phò gốc Nam Bộ như thế.
Huế, Xuân 1996.
ết thúc chiến tranh với Phong trào Tây Sơn trên đất Bắc (1802) vua Gia Long mở tiệc
khao quân và hạ chiếu vỗ yên quân dân Bắc Hà. Nhà vua được nhiều dân sĩ ngưỡng mộ
kéo nhau đến bái lạy chúc mừng. Nhiều gia đình đem con gái đẹp đến tiến cung. Họ
Nguyễn Đình ở làng Nội Duệ, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn (tỉnh Bắc Ninh) đem tiến
Nguyễn Đình Thị Vĩnh mới mười ba tuổi (sinh năm Canh Tuất, 1790) đoan trang đẹp đẽ khác
thường. Vua Gia Long tuy đã có nhiều phi tần nhưng vẫn không từ chối được người đẹp xứ quan họ
Bắc Ninh. Sau đó cô gái quan họ được ngồi xe vua về Phú Xuân, và được phong dần lên Hữu Cung
Tân, đứng thứ 14 trên 21 hậu và phi (chưa kể một số bà không rõ tên và lai lịch).
Lúc bà Tân vào hầu, vua Gia Long đã lớn tuổi, đã sẵn có hàng chục hậu và phi đã theo vua từ
hồi còn chinh chiến, vì thế ít khi bà được gần gũi ông vua đã thống nhất Việt Nam, phục hưng triều
Nguyễn. May sao, cuối năm Đinh Mão (1807) bà được gần vua và đến giờ thân ngày 22 tháng 7
năm Mậu Thìn (1808) bà sinh hạ được Công chúa thứ 13 đặt tên là Ngọc Cơ. Bà Tân được phong
lên Mỹ Nhân. Bà nuôi dạy Ngọc Cơ hết sức chu đáo. Công chúa thứ 13 càng lớn lên càng tỏ rạng
phong cách dòng dõi lá ngọc cành vàng, đầy đủ các đức công dung ngôn hạnh. Nhờ thế mà về sau,
vua Tự Đức trong một cáo mệnh đã khen Công chúa là một “nhánh bạc tỏa sáng, cành vàng tươi
nụ. Lúc trẻ thơ sớm quen dạy dỗ, khăn đai đều tỏ rõ nết na. Khi thiếu nữ thấm nhuần nữ huấn,
ngọc đeo thảy phô bày phong độ”.
Sau khi vua Gia Long mất (1819), Công chúa Ngọc Cơ mới 12 tuổi được theo bà Mỹ Nhân lên
hầu ở lăng Thiên Thọ ở làng Đình Môn. Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), Công chúa được hạ giá cho
Nguyễn Huỳnh Thành (sinh năm 1803) - con trai một công thần người Nam Bộ là Kiến Xương
Quận Công Nguyễn Huỳnh Đức.
Đám cưới diễn ra giữa thời kỳ huy hoàng nhất của triều Minh Mạng, giàu sang tột bậc. Bà rất
hạnh phúc bên cạnh Phò mã Huỳnh Thành (tên thụy Anh Mại) ở làng Vỹ Dạ. Ngày 12 tháng 3 năm
Tân Mão (1831) Công chúa Ngọc Cơ sinh cho họ Nguyễn Huỳnh người con trai đầu lòng đặt tên là
Nguyễn Huỳnh Võ. Lúc Võ chưa đầy năm thì Công Chúa lại có mang người con thứ hai. Gia đình
họ Nguyễn Huỳnh mừng vui hết sức.
Nhưng trong cõi vô thường không ai biết trước được vận mạng của mình: vừa qua mùa trăng
Trung Thu năm Nhâm Thìn (1832), ngày 16 tháng 8 Phò mã Anh Mại Nguyễn Huỳnh Thành mất
khi vừa đến được tuổi ba mươi. Chồng chết chưa đầy hai mươi hôm, ngày mồng 5 tháng 9 năm
Nhâm Thìn (1832) Công chúa sinh hạ thêm người con trai thứ hai và đặt tên Nguyễn Huỳnh Nghi.
Chuyện tử sinh, được mất sao mà cận kề đến thế!
Chồng mất sớm, Công chúa nương tựa tinh thần vào hai con. Nhưng nào có ngờ cả hai người
con bà cũng lần lượt giã từ bà: người em Nguyễn Huỳnh Nghi mất trước (18/12 Ất Mùi - 1835) và
người anh Nguyễn Huỳnh Võ mất sau (21/2 Đinh Dậu - 1837).
Trong vòng 6 năm bà chịu đựng hai lần sinh nở và 3 cái tang những người thân nhất của đời
bà. Công chúa trọng ơn nghĩa, giữ mãi tiết tháo trinh bạch, ở góa, giữ chí để vẹn tiết hạnh. Chuyện
sắc sắc không không, đời là bể khổ hiển hiện rõ ràng. Người không tin rồi cũng phải tin. Ngoài bà
mẹ già, Công chúa chỉ còn biết tựa vào chuông mõ và kinh kệ sớm hôm. Đúng như lời vua Tự Đức
viết về bà sau đó:
“Niềm từ bi thường dựa vào cõi Phật”.
Vào khoảng năm Mậu Tuất (1838) Công chúa xuống tóc xuất gia thọ giới sa-di với hòa thượng
Tánh Không và được đặt pháp danh Hải Châu. Bà thân mẫu Mỹ Nhân cũng qui y với pháp danh
Hải Thanh. Hai mẹ con cùng tu tại thảo am Linh Sơn Đông Thuyền thuộc ấp Cư Sĩ, làng Dương
Xuân Thượng, trên một đỉnh đồi thấp mà thoáng đãng.
Hình 4. Chùa Đông Thuyền ngày nay - nơi thờ phụng Công chúa Ngọc Cơ - con gái thứ 13 của vua Gia Long.
Thảo am do hòa thượng Tế Vỹ - một trong những cao túc của tổ Liễu Quán, khai sơn vào
khoảng giữa thế kỷ XVIII. Năm 1767, khi hòa thượng khai sơn vẫn còn tại thế, thảo am được tín
chủ Trương Văn Dạng và mẹ hiến cúng một khánh đồng. Sau khi Hòa thượng viên tịch, sư Đại
Quang hiệu Tuệ Chiếu kế tục trú trì. Trải qua những biến động cuối thế kỷ XVIII, thảo am thiếu sự
chăm sóc trở nên tiêu điều. Hơn 10 năm sau, sau khi vua Gia Long lên ngôi, tưởng nhớ đến dấu
tích một cao túc của tổ Liễu Quán, Hòa thượng Đạo Tâm Trung Hậu chùa Thuyền Tôn đã dựng lại
thảo am.
Lúc nầy người trong gia đình họ Nguyễn Huỳnh đều về quê trong Nam Bộ. Công chúa tuy đã
xuất gia nhưng vẫn phải lo việc thờ tự người thân trước mắt và lâu dài về sau. Bà mua đất và xây
dựng một từ đường ngay sau thảo am để làm nơi thờ tự chồng con, họ ngoại (Bắc Ninh) và chính bà
sau này.
Cùng lúc ấy, Công chúa lại chọn một cái gò cao ráo về phía đông thảo am Đông Thuyền ở cánh
đồng xứ Động Tường Yên, làng An Cựu, xây dựng một khu lăng có 5 huyệt mộ: Huyệt mộ chính
giữa là nơi chuẩn bị an táng mẹ khi bà Mỹ Nhân Nguyễn Đình Thị Vĩnh trăm tuổi, bên trái xây hai
uynh, một là mộ về sau của Công chúa, một là nơi cải táng ngôi mộ của Phò mã Nguyễn Huỳnh
Thành và bên phải xây hai uynh sẽ dời mộ cũ của hai con trai Huỳnh Võ và Huỳnh Nghi về đây.
Tất cả 5 huyệt mộ đều chọn tọa Ất, hướng Tân kiêm Mão Dậu. Tất cả chi phí công trình, kể đến ba
ngàn (quan), giao cho dân hai làng Dương Xuân thượng, Dương Xuân hạ canh giữ. Bà thường xuất
tiền cho người nghèo và giúp việc công ích trong xã. Bà cũng cấp ruộng cho dân hai xã Dương
Xuân (thượng, hạ) luân phiên canh tác lấy hoa lợi lo việc thờ cúng trong làng, trong đó có phần thờ
cúng bà và gia đình bà.
Việc Công chúa giao việc phụng thờ trong mai sau được vua Minh Mạng: “sai Phủ doãn phủ
Thừa Thiên thân sức cho hai làng ấy nối tiếp việc hậu thân của Trưởng công chúa, phàm tất cả
ngày kỵ hàng năm của vợ chồng Trưởng công chúa và mẹ công chúa đều do hai làng ấy sắm sửa
đầy đủ lễ phẩm cúng tế, để mãi mãi kéo dài việc phụng sự đời đời, nếu lâu ngày sinh trễ nải, tự
tiện sơ sài thì bị kinh doãn trừng trị”.
Dân hai làng Dương Xuân thượng và Dương Xuân hạ rất tự hào được làm người thực hiện việc
phụng thờ Công chúa Ngọc Cơ. Trên tấm bia dựng ở Từ đường Công chúa Ngọc Cơ vào năm Minh
Mạng thứ 19 (1838), dân hai làng ghi rõ qui định nêu trên của vua Minh Mạng và niềm tự hào của
dân hai làng như sau:
“Nay dân hai làng kính vâng các khoản trên, lo liệu mọi việc đã thành nề nếp, bậc hương
thân, người hiểu biết (trong hai làng) đã cùng nhau bàn bạc rằng:
Phẩm hạnh trinh tiết là điều ai cũng tôn trọng. Việc quốc gia đề cao phong hóa, các tiết phụ
liệt nữ được ban khen phổ biến khắp làng xóm. Hai làng ta sống giữa chốn đế đô thanh danh văn
vật, lễ nghĩa đã thấm nhuần sâu xa và lâu dài. Nhà trong làng may mắn có người ấy, đức ấy đối
với phong hóa thật là bổ ích.
Nghĩ rằng Công chúa lấy dung mạo trong trắng sánh cùng bậc trung thần huân tường,
hành vi ấy sáng trong lịch sử, tiết tháo dùi mài như thơ Bách Chu. Mà ân huệ của Công chúa lại
đủ để lan tới mọi người, lại càng tốt đẹp thay, không thể để cho mai một”.
Đến như nỗi lo sâu, ơn huệ xa, tính việc hương hỏa trăm năm, lại thấy rõ việc hiếu nghĩa,
thực đáng nết hay. Mà hai làng ta có lòng thành đội ơn báo đáp chẳng hẹn mà nên, lại càng làm
cho con cháu đời đời giữ gìn chẳng mất. Đó cũng là điều đáng viết vậy”.
Làm từ đường và khu lăng mộ xong, vào năm Thiệu Trị thứ hai (1842), Công chúa Ngọc Cơ lại
cùng với mẹ là bà Mỹ nhân Nguyễn Đình Thị Vĩnh, hai phi tần của vua cha Gia Long là Phan Văn
Thị Hạc, Đặng Công Thị Duyên (cũng có nơi viết là Lục) và hai bà chúa em là Ngọc Thành (Công
chúa thứ 16, con bà Hạc), Ngọc Trình (Công chúa thứ 18, con bà Duyên) phát tâm trùng tu thảo
am Linh Sơn Đông Thuyền thành một ngôi chùa lớn với quy mô gồm chánh điện (nhà vuông một
gian hai chái), phương trượng, tăng xá, thiền đường, hậu liêu hơn mười sở. Đồng thời cũng chú tạo
một tượng Phật Tam Thế, Phật Quan Âm bằng đồng và hầu hết các tượng khác cùng pháp khí
trong chùa. Đại hồng chung nặng 398 cân cũng chú tạo trong lần trùng tu này, do h...
Quy cách biên tập
Lời nói đầu
Phần I. Chuyện kể
Phụ nữ Nam kỳ làm vợ các vua Nguyễn
Các ông Phò mã người Nam bộ
Công chúa Ngọc Cơ - cháu ngoại tỉnh Bắc Ninh làm dâu Nam Bộ
Vì sao nhà Nguyễn kiêng tên “Hoa”?
Hoàng thái hậu Từ Dũ - một bậc mẫu nghi thiên hạ
Phan Thanh Giản lấy thân mình cản bánh xe vua
Diệp Văn Cương làm rể xứ Huế, làm thầy dạy Pháp văn đầu tiên cho người Huế
Con gái Gò Công làm Hoàng hậu cuối cùng của triều Nguyễn
Chuyện tình “Hương Giang dạ khúc” của Lưu hữu Phước
Nghệ sĩ sân khấu Kim Cương có phải là cháu nội vua Thành Thái không?
Nữ nghệ sĩ Kim Cương có phải là cháu nội vua Thành Thái không
Phần II. Bút ký
Giếng Ngự ở hòn Đảo Ngọc
Nguyễn (Phúc) Ánh - Nguyễn Vương Hoàng đế Gia Long trong đời sống tâm linh của người
dân An Giang
Về thăm Nước Xoáy (Hồi Oa) - nơi khởi đầu thời kỳ Trung hưng của nhà Nguyễn tại Nam Bộ
Ngày xuân đi thăm phủ thờ Tả tướng quân Lê Văn Duyệt tại Huế
Đi viếng nhà thờ - lăng mộ Công chúa Qui Đức & Phò mã Phạm Thuật ở Huế
Bạch Dinh ở Cap Saint-Jacque (Vũng Tàu) “Dinh vua Thành Thái”
Phần III. Nghiên cứu
Năm 1783, Nguyễn Ánh có chạy ra Côn Đảo hay không?
Cuộc kháng chiến chống Pháp của Trương Định không nằm ngoài chủ trương của vua Tự Đức
'Xuất' và 'Xử' trong cuộc đời chính trị của Trương Vĩnh Ký
Souvenir de la vie d'un père Pour ses enfants
Phần IV. Hỏi đáp
Các chúa Nguyễn bắt đầu mở nước về phía Nam như thế nào và khi nào kết thúc?
Có phải niên hiệu Gia Long, lấy từ tên Gia Định và Thăng Long không?
Nơi nào trên Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có lịch sử gắn bó với đời tư các vua Nguyễn
một cách sâu sắc?
Ở Huế có một ngôi làng của người Nam Bộ?
Phụ lục.
Khóc cho tuổi già vô dụng
Tái bút: Nói riêng với Nguyễn Đắc Xuân
Sách và tài liệu tham khảo
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN - GÓC NHÌN SỬ VIỆT
LỜI GIỚI THIỆU
Bạn đọc thân mến!
Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của riêng cá nhân nào, chính vì vậy, việc bảo tồn,
gìn giữ và phát triển lịch sử văn hóa cũng không phải riêng một người nào có thể gánh vác được,
nó thuộc về nhận thức chung của toàn xã hội và vai trò của từng nhân tố trong mỗi chặng đường
lịch sử. Lịch sử là một khoa học. Lịch sử không phải là việc thống kê sự kiện một cách khô khan rời
rạc. Bởi mỗi sự kiện trong tiến trình đó đều có mối liên kết chặt chẽ với nhau bằng sợi dây vô hình
xuyên suốt không gian và thời gian tạo nên lịch sử của một dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần trăm năm dưới ách cai trị của thực
dân, đế quốc, nhưng con cháu bà Trưng, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang
Trung... vẫn kiên trì bền chí, tin tưởng ở quá khứ hào hùng, không ngừng tranh đấu hướng tới
tương lai rộng mở vì độc lập tự do của đất nước.
Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển, ngoài việc đẩy mạnh phát triển cơ
sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật, điều quan trọng hơn nữa là phải có một nền tảng giáo dục vững chắc.
Trong đó, giáo dục về lịch sử và lòng tự hào dân tộc là cần thiết để ghi khắc trong tâm trí các thế
hệ, đặc biệt là tầng lớp thanh niên ý thức về nguồn gốc dân tộc, truyền thống văn hóa và nội lực
quốc gia, đồng thời giúp định hình góc nhìn thấu đáo về vai trò của từng giai đoạn, triều đại và
nhân vật - dù gây tranh cãi - tạo nên lịch sử đó.
Chính vì những giá trị to lớn đó, vấn đề học tập, tìm hiểu lịch sử nước nhà hiện đang là mối
quan tâm hàng đầu của Nhà nước và toàn xã hội. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Quỹ Phát triển
Sử học Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay... và rất nhiều những tổ chức khác đã và đang kiên trì con
đường thúc đẩy sự phát triển của nền khoa học lịch sử quốc gia, phổ biến tri thức lịch sử, góp phần
giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc tới toàn xã hội.
Đồng hành với mối quan tâm của toàn xã hội, Công ty Cổ phần Sách Alpha - một doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, với tôn chỉ “Tri thức là sức mạnh” - đặc biệt quan tâm tới
việc góp phần nâng cao hiểu biết của người dân về truyền thống văn hóa lịch sử đất nước.
Theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu của bạn đọc cho thấy, “lỗ hổng lịch sử” ở không
ít người trẻ hiện nay hoàn toàn có thể bù lấp một phần dựa trên nhiều nguồn tư liệu, công trình
nghiên cứu, sách cổ sách quý hiện đang được các Viện nghiên cứu, các tổ chức, cá nhân lưu giữ. Để
chung tay tái hiện một cách rõ nét những mảnh ghép lịch sử dân tộc, Công ty Cổ phần Sách Alpha
đã triển khai dự án xuất bản mang tên Góc nhìn sử Việt với mục đích xuất bản lại và xuất bản
mới một cách có hệ thống các công trình, tư liệu, sách nghiên cứu, sách văn học có giá trị… về lịch
sử, bước đầu hình thành nên Tủ sách Alpha Di sản.
Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một trong những sản phẩm đầu tiên của dự án này.
Xin trân trọng giới thiệu.
CÔNG TY CP SÁCH ALPHA
Tủ sách “Góc nhìn sử Việt” ra đời mục đích giới thiệu đến bạn đọc những tác phẩm hay, có giá
trị, đồng thời góp phần bảo lưu gìn giữ những giá trị văn hóa của đất nước. Để thực hiện bộ sách
này, chúng tôi tuân thủ một số quy cách sau:
1. Bảo toàn văn phong, nội dung nguyên gốc, từ ngữ mang đậm văn hóa vùng miền trong tác
phẩm (trừ khẩu âm).
2. Biên tập đối chiếu trên bản gốc sưu tầm được và có ghi rõ tái bản trên bản năm nào.
3. Chú thích từ ngữ cổ, từ Hán Việt.
4. Tra cứu bổ sung thông tin: tiểu dẫn, tiểu sử, sự kiện, nhân vật, phụ lục (nếu cần thiết)...
5. Sửa lỗi chính tả trong bản gốc.
6. Giản lược gạch nối từ ghép, khôi phục từ Việt hóa tiếng nước ngoài khi có đủ tài liệu tra cứu
tin cậy (trừ trường hợp từ ngữ đó đã dịch thành thuần Việt).
7. Trường hợp thông tin lịch sử trong sách có sai lệch so với chính sử, chúng tôi sẽ chú thích
hoặc đăng phụ lục ở cuối sách.
8. Một số hình ảnh trong sách gốc bị mờ, chất lượng kém… chúng tôi sẽ đăng bổ sung - thay thế
các hình ảnh có nội dung tương tự, chất lượng tốt (nếu có).
Mong đón nhận những ý kiến đóng góp của độc giả, hỗ trợ chúng tôi hoàn thiện tủ sách này.
Alpha Books
Lời nói đầu
N
ếu Thanh Hóa là nơi xuất phát của 9 đời chúa Nguyễn thì Nam Bộ là nơi trung hưng
mở ra thời kỳ 13 đời vua Nguyễn ở Thuận Hóa - Phú Xuân. Do đó nghiên cứu triều
Nguyễn và Huế xưa không thể không nghiên cứu lịch sử Nam Bộ và ngược lại không thể
nghiên cứu lịch sử Nam Bộ nếu không nghiên cứu triều Nguyễn.
Tôi là một nhà nghiên cứu không chuyên, vì ham thích lịch sử mà nghiên cứu chứ chưa hề
được biên chế trong bất cứ một cơ quan nghiên cứu lịch sử văn hóa nào.
Tôi biết lịch sử Nam Bộ qua các bộ sách của Quốc sử quan triều Nguyễn như Đại Nam Thực
lục, Đại Nam Liệt truyện, Đại Nam Nhất Thống Chí, Gia Định Thành Thông Chí..., các sách của
người Pháp viết về Nam Bộ thời thuộc Pháp... Đặc biệt qua các thầy và các bạn người Nam Bộ
của tôi. Đó là các thầy Vương Hồng Sển, Trần Văn Khê, các bạn Nguyễn Văn Y, Sơn Nam, Lý
Việt Dũng, Bảo Hội. Địa bàn nghiên cứu của tôi chỉ quanh quẩn ở miền Trung. Việc đi điền dã ở
Nam Bộ của tôi có tính bất chợt hay do yêu cầu của một địa phương nào đó mời mà thôi. Do đó
những gì tôi viết về Nam Bộ với triều Nguyễn và Huế xưa cũng có tính bất chợt nên thiếu hệ
thống, thiếu toàn diện. Từ sau năm về hưu (1998), tôi dự định sẽ điền dã Nam Bộ một thời gian,
viết bổ sung những gì cần viết về Nam Bộ. Anh Lý Việt Dũng cùng ở trong Hội đồng Khoa học
của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học với tôi hứa sẽ đưa tôi điền dã Nam Bộ với anh. Nhưng sau
đó sức khỏe anh Lý không cho phép, lời hứa đó chỉ còn là một kỷ niệm. Tiếp đến anh Nguyễn
Phúc Bảo Hội (cháu nội vua Thành Thái, quê mẹ ở Sa Đéc, Việt Kiều Mỹ) có ý giúp tôi theo anh đi
thăm những nơi chúa Nguyễn Vương (Nguyễn Phúc Ánh, sau nầy là vua Gia Long) đã từng
“nằm gai nếm mật” ở Nam Bộ. Chuyến đi thực tế đầu tiên chúng tôi về vùng Nước Xoáy (Hồi Oa),
một địa điểm thuộc huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) - nơi còn giữ được nhiều di tích liên quan đến
Nguyễn Phúc Ánh. Tôi có bút ký “Về thăm Nước Xoáy (Hồi Oa)”. Không may sau đó ít lâu, anh
Bảo Hội qua đời đột ngột. Chuyện điền dã những nơi chúa Nguyễn Vương từng qua của tôi phải
tạm dừng.
Biết tôi tha thiết với Nam Bộ, kiến trúc sư Hồ Viết Vinh tổ chức cho tôi đi Phú Quốc, nhà văn
lão thành Vũ Hạnh chở tôi đi Gò Công, điêu khắc gia Thụy Lam đón tôi đi An Giang... Sau mỗi
lần đi thực tế tôi đều có một vài bài viết nhớ đời.
Tuy có nhiều cố gắng nhưng khi nhìn lại thì vẫn thấy “sự nghiệp cầm bút” của tôi với Nam Bộ
vẫn còn sơ sài so với thực tế lịch sử. Rất tiếc là quỹ thời gian còn lại không cho phép tôi phấn đấu
cho đầy đủ được. Để đời tôi có một kỷ niệm với bạn đọc Nam Bộ, tôi sưu tập lại tất cả những bài
tôi đã viết mà nay có thể sưu tập được in thành cuốn sách nhỏ nầy. Qua đây, cũng là một giải
đáp dành cho những bạn đọc muốn sưu tập bài viết của tôi về Nam Bộ.
Nội dung các bài viết thuộc nhiều thể loại: Chuyện kể, bút ký, nghiên cứu, hỏi và đáp, thích
hợp cho mọi tầng lớp từ người bình dân cho đến các nhà nghiên cứu.
Là người miền Trung viết chuyện lịch sử của Nam Bộ nên không tránh được sai sót trong
ngôn ngữ, tên người, tên đất ở các địa phương Nam Bộ. Kính mong được các bậc trưởng thượng
chỉ giáo những chỗ bất cập để có dịp tái bản được hoàn chỉnh hơn.
Xin đa tạ.
Nguyễn Đắc Xuân
ác chúa Nguyễn có công chinh phục và khai phá vùng đất Nam kỳ. Nhờ đó mà khi các
chúa Nguyễn mất ngôi (1774), một người cháu của các chúa là Nguyễn Phúc Ánh đã sử
dụng được nhân tài vật lực của Nam kỳ để khôi phục lại ngai vàng mở ra triều đại các vua
Nguyễn sau nầy. Các quan lại giúp cho Nguyễn Phúc Ánh lập nên Đế chế Nguyễn là người
Nam kỳ. Về sau một số con cái các quan người Nam kỳ làm dâu (phủ thiếp), làm rể (phò mã) các
vua Nguyễn. Nhiều bà Phủ thiếp có chồng, có con, có cháu được nối ngôi vua, được phong Hoàng
hậu, Hoàng Thái hậu, Thái hoàng Thái Hậu. Nhiều bà có đạo đức, có học vấn, có tuổi thọ cao nên
ảnh hưởng lớn đến đời sống cung đình.
Vua Gia Long có 21 bà vợ còn biết tên, nhưng chỉ có 3 người được Nguyễn Phước Tộc Thế Phả
ghi tiểu sử. Đó là các bà: Thừa Thiên Cao Hoàng hậu Tống Thị Lan, người Huế gốc Thanh Hóa; bà
Thuận Thiên Cao Hoàng hậu Trần Thị Đang người Huế; bà Đức Phi Lê Thị Ngọc Bình con vua Lê
Hiển Tông, em cùng cha khác mẹ với Ngọc Hân Công chúa. Mười tám bà còn lại nhờ có con nên
còn nhớ tên. Nhiều người khác không có con không ai nhớ tên. Có lẽ trong số những người làm vợ
vua Gia Long có tên (không có tiểu sử) hoặc quên tên có nhiều người gốc Nam kỳ. Một người tài
hoa và đam mê như vua Gia Long mà suốt 25 năm hoạt động ở Nam kỳ lẽ nào không có được một
mối tình!
Vua Minh Mạng có hàng trăm bà vợ, nhưng Nguyễn Phước Tộc Thế Phả cũng chỉ ghi tên 43
bà (có con), trong số 43 bà đó cũng chỉ có một số ít bà được ghi tiểu sử. Trong số ít bà được chép
tên đó có 4 người phụ nữ Nam kỳ. Đó là:
1. Bà Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa (1791 - 1807), người huyện Bình An, Biên
Hòa (nay là Thủ Đức TP. HCM), con gái Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi. Năm 15 tuổi, bà được vua
Gia Long và Hoàng hậu Thuận Thiên tuyển chọn làm phủ thiếp cho Hoàng tử Đảm (sau nầy là vua
Minh Mạng). Bà Hoa có tính dịu dàng, thận trọng, một lòng hiếu kính. Bà sinh Miên Tông (sau
nầy là vua Thiệu Trị) được 13 ngày thì mất giữa tuổi 17. Vì kỵ húy tên Hoa của bà mà các vua
Nguyễn cấm thần dân không được dùng từ “hoa”. Những tên có từ hoa đều phải đổi như: Cầu Hoa
thành cầu Bông, tuồng hát Phàn Lê Hoa thành Phàn Lê Huê hay Phàn Lê Ba, cửa Đông Hoa
thành cửa Đông Ba, tỉnh Thanh Hoa thành tỉnh Thanh Hóa...
2. Bà Thục tần Nguyễn Thị Bảo (1801 - 1851), người Gia Định con quan Tư không
Nguyễn Khắc Thiệu, bà vào hầu vua Minh Mạng từ lúc còn ở Tiềm Để(1), sau bà được tấn phong
Thục tần. Bà Nguyễn Thục tần sinh được 4 hoàng tử, nhưng chỉ nuôi được một người là Miên Thẩm
(1818 - 1870) và 3 bà công chúa: Vĩnh Trinh (1824 - 1892), Trinh Thận (1826 - 1904) và Tĩnh Hòa
(1830 - 1882). Về sau cả bốn người con của bà trở thành những nhà thơ nổi tiếng nhất ở cố đô Huế.
Đó là các ông bà Tùng Thiện Vương, Qui Đức, Mai Am, và Huệ Phố. Ngoài thơ, bốn người cháu
ngoại Nam kỳ nầy còn giỏi nhạc (trong phủ Tùng Thiện có lập một đội nhạc riêng).
3. Bà Hòa tần Nguyễn Thị Khuê, húy Bích Chi, người Phúc Lộc, Gia Định, con gái Chưởng
cơ Nguyễn Văn Thanh, trấn thủ tỉnh Quảng Yên. Bà sinh 10 người con: 4 hoàng tử và 6 hoàng nữ.
4. Bà Cung nhân Nguyễn Thị Nhân, người thứ 38 trong danh sách 43 bà phi có tên của
vua Minh Mạng, quê ở Gia Định, con gái của Chính đội Nguyễn Văn Châu. Bà là sinh mẫu của
Hoàng tử Miên Ký (1838 - 1881). Miên Ký là một thân thần giỏi văn chương triều Tự Đức nên được
phong là Cẩm Quốc công.
Vua Thiệu Trị có 3 bà vợ người Nam Bộ:
Hình 1. Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (1810 - 1901) - Ảnh tư liệu của Bảo Hiền
1. Bà Thái Hoàng hậu Từ Dũ, tên thật là Phạm Thị Hằng, người Gò Công, con gái
Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng. Thuở nhỏ bà thích đọc sách, thông kinh sử, tính rất hiếu
hạnh. Thuận Thiên Cao Hoàng hậu nghe tiếng bà hiền đức cho tuyển vào cung hầu Miên Tông
(sau nầy là vua Thiệu Trị). Vì đức hạnh và thuận thảo nên bà được vua rất sủng ái. Bà là người kính
cẩn, nghiêm trang, cử chỉ hợp lễ. Những lúc có khánh hạ, triều bái trong cung lúc nào bà cũng giữ
đúng lễ nghi, mọi người trông dung mạo bà đều phải kính nể. Thời Thiệu Trị, bà giữ chức Thượng
nghi kiêm cai quản tất cả các bà trong Lục nghi. Bà là tấm gương cần kiệm, nhân hậu, có ảnh
hưởng lớn đối với vua Tự Đức. Bà ra đời thời Gia Long (1810), được tuyển vào cung thời Minh
Mạng, làm vợ vua Thiệu Trị, làm mẹ vua Tự Đức, và sống tuổi già trải qua các đời Dục Đức, Hiệp
Hòa, Kiến Phước, Hàm Nghi, Đồng Khánh và bà mất (năm 1901) thời Thành Thái (1889 - 1907)
(gần 10 đời vua). Bà đã chứng kiến những sự kiện lịch sử lớn của đất nước và trong Hoàng cung xảy
ra suốt chiều dài thế kỷ XIX.
Người Nam kỳ, đặc biệt là người Gò Công hết sức trọng vọng bà, dù đường sá xa xôi khi có
những của ngon vật lạ như mắm tôm, gỏi cá, trái sầu riêng, giáng châu (măng cụt), các giống lúa
gạo thơm... họ đều đem ra dâng tiến cho bà. Người Huế có giống gạo thơm, biết làm mắm tôm, biết
ăn gỏi cá từ ấy.
2. Bà Lệnh phi Nguyễn Thị Nhậm, người An Giang, con của Kinh môn Quận công Nguyễn
Văn Nhân, bà được tiến cung cùng một lần với bà Phạm Thị Hằng con gái Phạm Đăng Hưng, nhờ
tước của cha nên Lệnh phi có vị thứ trước bà Phạm Thị Hằng. Tiếc cho Lệnh phi chỉ sinh được một
hoàng nữ là Nhàn Yên (An Thạch Công chúa) nên về sau bà có thứ bậc sau bà Hằng.
3. Bà Đức tần Nguyễn Thị Huyên, người gốc Thừa Thiên nhưng từ đời ông đã vào Gia
Định, con gái Cai cơ Nguyễn Đức Xuyên. Bà là sinh mẫu của Hồng Diêu (1845 - 1875) hoàng tử thứ
25 của vua Thiệu Trị.
Vua Tự Đức có một bà vợ người Nam Bộ:
Đó là bà Học phi Nguyễn Thị Hương, người Vĩnh Long, con ai không rõ. Năm 1870 bà
theo lệnh vua Tự Đức nhận công tử Ưng Thị mới 2 tuổi - con trai Hường Cai - làm dưỡng tử, sau
nầy Ưng Thị được tôn lên làm vua tức vua Kiến Phước.
Tám ông vua sau Tự Đức (từ Dục Đức đến Khải Định) không vị nào có phi tần người Nam kỳ
cả.
Riêng ông vua cuối cùng Bảo Đại đi học Pháp về cưới bà Hoàng hậu Nam Phương Nguyễn
Hữu Thị Lan (1914 - 1963) con gái nhà hào phú Nguyễn Hữu Hào ở Gò Công. Bà sinh được 2
hoàng tử và 3 hoàng nữ: Bảo Long (1936), Phương Mai (1937), Phương Liên (1938), Phương Dung
(1942), Bảo Thăng (1943). Sau khi vua Bảo Đại thoái vị (8/1945), bà sang Pháp sống với các con
cho đến khi qua đời (1963).
Do ảnh hưởng của các bà hoàng có thế lực gốc Nam kỳ trong cung Nguyễn nên giọng nói sang
trọng nhất của các bà là giọng Huế pha Nam Bộ. Ví dụ các bà nói: Ba ngày tết thèm ăn một tô canh
cá phác lác. Chín từ đầu nói giọng cổ của Huế, nhưng hai từ phác lác cuối cùng nói giọng mũi của
Nam kỳ. Nhờ ảnh hưởng của các bà mà nhiều món ngon vật lạ đất Nam Kỳ được nhập về Huế.
Các ông Phò mã người Nam bộ
au khi mất ngôi Chúa vào tay quân Trịnh và nhà Tây Sơn, vào cuối thế kỷ XVIII, dòng họ
Nguyễn ở xứ Đàng Trong trung hưng được là nhờ nhân tài vật lực của Nam Bộ. Sau ngày
kháng chiến thành công, các quan lại chủ chốt của vua Gia Long là người Nam. Vì thế nhiều
hoàng nữ của các vua đầu triều Nguyễn đã hạ giá(2) cho con trai các quan người Nam.
S
Người phò mã Nam Bộ đầu tiên của triều Nguyễn là Võ Tánh - người Biên Hòa, lấy Công chúa
Ngọc Du, chị của vua Gia Long - con gái của Hưng Tổ Hiếu Khương hoàng đế. Ông Phò họ Võ đã
trung thành tuyệt đối với sự nghiệp trung hưng của nhà Nguyễn. Võ đã cùng Ngô Tùng Chu tử thủ
giữ thành Qui Nhơn, thu hút quân Tây Sơn để cho Nguyễn Phúc Ánh rảnh tay ra giải phóng Phú
Xuân hồi mùa hè năm 1801. Trong văn tế ông, vua Gia Long đã hết lời ca ngợi tấm gương tuẫn tiết
của ông. [Về sau cháu nội của ông là Hoài hầu Võ Văn Mỹ (con trai Võ Khánh) lấy Công chúa Lộc
Thành (Uyển Diễm) - con gái thứ ba của vua Minh Mạng].
Vua Gia Long có 18 hoàng nữ, nhưng chỉ có 14 người hạ giá, một nửa số đó hạ giá cho con các
quan người Nam Bộ. Công chúa Bảo Thuận (Ngọc Xuyến, thứ 5) và Công chúa Định Hòa (Ngọc Cơ,
thứ 13) hạ giá cho hai anh em ruột Nguyễn Huỳnh Toán - Nguyễn Huỳnh Thành, con Kiến Xương
Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, người Định Tường. Hạ giá được ba năm thì chồng mất, Công chúa
Định Hòa lập am ở làng Dương Xuân để ở thờ chồng. Cái am của bà được phát triển thành chùa
Đông Thuyền thành phố Huế ngày nay.
Hai công chúa An Thái (Ngọc Nga, thứ 7) và Nghĩa Hòa (Ngọc Nguyệt, thứ 9) hạ giá cho hai
anh em ruột Nguyễn Đức Thiền và Nguyễn Đức Hỗ, người Thừa Thiên đã dời vào Gia Định từ đời
ông, con của Khoái Châu Quận công Nguyễn Đức Xuyên.
Công chúa An Nghĩa (Ngọc Ngôn, thứ 10), hạ giá cho Lê Văn Yến người gốc Quảng Ngãi vào
Định Tường từ thời nội tổ, con trưởng của Lê Văn Phong, con thừa tự của Tổng trấn Gia Định Lê
Văn Duyệt. Năm 1835, xử vụ án Lê Văn Duyệt, Yến bị tội chết, bà Chúa An Nghĩa thủ tiết thờ
chồng cho đến cuối đời (1856).
Công chúa Mỹ Khê (Ngọc Khuê, thứ 12), hạ giá cho ông Nguyễn Văn Thiện, người An Giang,
con Kinh môn Quận công Nguyễn Văn Nhân.
Công chúa Ngọc Thành (thứ 16) hạ giá cho ông Hồ Văn Thập, anh ruột bà Hồ Thị Hoa - mẹ
vua Thiệu Trị, người Biên Hòa (nay thuộc Thủ Đức), con của Phúc Quốc công Hồ Văn Bôi. Về sau,
con của Hồ Văn Thập là Hồ Văn Ngoạn (có lẽ không phải con của Công chúa Ngọc Thành) lấy
Công chúa Xuân Vân (An Nhàn) hoàng nữ thứ 51 của vua Minh Mạng. Như thế trong nhà họ Hồ,
người anh làm Phò mã vua Gia Long, người em làm dâu vua Minh Mạng, người cháu làm Phò mã
vua Minh Mạng. Nhờ có nhiều người làm Hậu, làm Phò mã như thế nên ở nguyên quán Thủ Đức
triều Nguyễn cho lập nhà thờ gọi là Hồ tộc từ đường.
Vua Minh Mạng có 64 hoàng nữ, 12 người mất sớm, 52 người có gia thất, trong đó có 11 người
hạ giá cho người Nam Bộ. Chuyện Phò mã Mỹ lấy Công chúa Lộc Thành, Phò mã Ngoạn lấy Công
chúa Xuân Vân đã nói trên, 9 người còn lại là: Công chúa Vĩnh An (Hòa Thục, thứ 6) hạ giá cho
Nguyễn Trường người Bình Dương, Gia Định, con trai của Thị vệ Nguyễn Văn Lộc. Công chúa An
Trang (Trinh Đức, thứ 7), hạ giá cho Trần Văn Thạnh, người Bình Dương, Gia Định, con trai Thị
Lang bộ Công Trần Văn Tính. Công chúa Định Mỹ (Đoan Thuận, thứ 10) hạ giá cho Đỗ Tài, người
Tân Long, Gia Định, con trai Thống Chế Đỗ Quí; Công chúa Phú Mỹ (Đoan Trinh, thứ 11) hạ giá
cho Đoàn Văn Tuyển, người Đông Xuyên, An Giang, con trai Tiền phong Dinh đô thống Đoàn Văn
Sách; Công chúa Phương Duy (Vĩnh Gia, thứ 12) hạ giá cho Lê Tăng Mậu, người Bảo Hựu, Vĩnh
Tường, con Thiếu bảo Ân Quang tử Lê Văn Đức; Công chúa Tân Hòa (Đoan Thuận, thứ 13) hạ giá
cho Trịnh Hoài Cẩn, người Tân Long, Gia Định, con trai Thiếu Bảo Cần Chánh Điện Đại Học sĩ
Trịnh Hoài Đức; Công chúa Mậu Hòa (Gia Trinh, thứ 15) hạ giá cho Trần Văn Đức, người Bình
Dương, Gia Định, con trai Thống chế Tiền phong Dinh Bình Khánh Tử Trần Văn Trí; Công chúa
Qui Đức (Vĩnh Trinh, thứ 18), em Tùng Thiện Vương hạ giá cho Phạm Đăng Thuật, em út bà Từ
Dũ, người Tân Hòa, Gia Định, con trai Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng. Năm 1861, Pháp đánh
Nam kỳ, Phò mã Thuật được lịnh vua Tự Đức đi thám sát, không may ông đã chết ở trận tiền. Công
chúa thương tiếc, xin vua cho đưa xác Phò mã về Kinh và chịu đựng 10 năm khổ tiết thờ chồng.
Công chúa Phương Hương (An Nhàn, thứ 41), hạ giá cho Hoàng Văn Ban, người Bình Long, Gia
Định, con của Thự Tổng Đốc Hoàng Văn Ân.
Vua Thiệu Trị có 35 hoàng nữ, 21 người mất sớm, chỉ có 14 người thành gia thất, người đứng
đầu trong 14 hoàng nữ ấy là Công chúa Diên Phước (Tĩnh Hảo, thứ nhất), chị ruột vua Tự Đức đã
hạ giá cho Nguyễn Văn Ninh, người Bảo Hựu, Vĩnh Long, con trai Hoàng Trung hầu Nguyễn Văn
Trọng. Nhà thờ của bà có tên là Vĩnh Âm Viên ở đầu thôn Kim Long, phía bên trên đền thờ Đức
Quốc Công Từ dành cho ông ngoại của bà. Bà còn được thờ ở chùa Diệu Đế - nơi trước kia vua cha
Thiệu Trị đã ra đời.
Hình 2. Di tích Cửa tam quan Vĩnh Âm viên. Ảnh NĐX.
Có thể xem ông Nguyễn Văn Ninh là Phò mã chính thức cuối cùng của triều Nguyễn. Bởi vì
hết đời Thiệu Trị qua đời Tự Đức, một phần Tự Đức không có con, một phần Nam Bộ bắt đầu
kháng Pháp và lọt vào tay Pháp nên con trai Nam Bộ không còn cơ hội làm Phò mã nữa.
Đến triều Thành Thái (1889 - 1907), các Công chúa con vua Thành Thái còn nhỏ nên chưa có
Phò mã. Nhưng sau khi nhà vua bị tốn vị và đày sang đảo Réunion (1916), các Công chúa con vua
bị đày lớn khôn có chồng, các chàng rể ông vua bị đày vẫn được thần dân xem là Phò Mã. Ông Phò
mã người Nam Bộ nổi tiếng nhất của vua Thành Thái là luật sư Vương Quang Nhường.
Hình 3. Luật sư Vương Quang Nhường. Ảnh. Souvrains et Notabilités d' Indochine.
Luật sư Vương Quang Nhường sinh năm 1902, tại Yên Luông Đông, Gò Công. Học trường Mỹ
Tho, du học Pháp, đậu Tiến sĩ Luật khoa. Về nước làm luật sư tòa Thượng thẩm Sài Gòn. Là người
có học vấn cao, kiến thức rộng, Vương Quang Nhường được các giới thượng lưu Việt Pháp kính nể.
Ông đính hôn với bác sĩ Henriette Bùi - con gái Bùi Quang Chiêu, người quê ở Mỏ Cày. Nhưng
rồi chuyện đính hôn bất thành, không rõ trong trường hợp nào ông đi cưới bà Lương Nhàn
(thường gọi là Mệ Cưởi) – con gái thứ 16 của vua Thành Thái, em ruột vua Duy Tân... Ông Phò họ
Vương đã có công vận động thực dân Pháp cho vua Thành Thái được hồi hương (1947), rồi cùng
với Công chúa Lương Nhàn nuôi dạy các con vua Duy Tân một thời gian và cuối cùng nhận chức
Tổng trưởng Quốc gia giáo dục trong chính phủ Trần Văn Hữu và sau đó là chính phủ Nguyễn Văn
Tâm.
***
Các ông Phò mã Nam Bộ theo các bà chúa lập nghiệp ở Huế, và lập các chi nhánh của họ hàng
mình ở Kinh đô. Con cháu các Phò mã và các quan lại người Nam Bộ khác là một bộ phận quan
trọng của cư dân Huế ngày nay. Cố họa sĩ Phạm Đăng Trí - một hoạ sĩ Huế nổi tiếng, xuất thân
trong gia đình một ông Phò gốc Nam Bộ như thế.
Huế, Xuân 1996.
ết thúc chiến tranh với Phong trào Tây Sơn trên đất Bắc (1802) vua Gia Long mở tiệc
khao quân và hạ chiếu vỗ yên quân dân Bắc Hà. Nhà vua được nhiều dân sĩ ngưỡng mộ
kéo nhau đến bái lạy chúc mừng. Nhiều gia đình đem con gái đẹp đến tiến cung. Họ
Nguyễn Đình ở làng Nội Duệ, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn (tỉnh Bắc Ninh) đem tiến
Nguyễn Đình Thị Vĩnh mới mười ba tuổi (sinh năm Canh Tuất, 1790) đoan trang đẹp đẽ khác
thường. Vua Gia Long tuy đã có nhiều phi tần nhưng vẫn không từ chối được người đẹp xứ quan họ
Bắc Ninh. Sau đó cô gái quan họ được ngồi xe vua về Phú Xuân, và được phong dần lên Hữu Cung
Tân, đứng thứ 14 trên 21 hậu và phi (chưa kể một số bà không rõ tên và lai lịch).
Lúc bà Tân vào hầu, vua Gia Long đã lớn tuổi, đã sẵn có hàng chục hậu và phi đã theo vua từ
hồi còn chinh chiến, vì thế ít khi bà được gần gũi ông vua đã thống nhất Việt Nam, phục hưng triều
Nguyễn. May sao, cuối năm Đinh Mão (1807) bà được gần vua và đến giờ thân ngày 22 tháng 7
năm Mậu Thìn (1808) bà sinh hạ được Công chúa thứ 13 đặt tên là Ngọc Cơ. Bà Tân được phong
lên Mỹ Nhân. Bà nuôi dạy Ngọc Cơ hết sức chu đáo. Công chúa thứ 13 càng lớn lên càng tỏ rạng
phong cách dòng dõi lá ngọc cành vàng, đầy đủ các đức công dung ngôn hạnh. Nhờ thế mà về sau,
vua Tự Đức trong một cáo mệnh đã khen Công chúa là một “nhánh bạc tỏa sáng, cành vàng tươi
nụ. Lúc trẻ thơ sớm quen dạy dỗ, khăn đai đều tỏ rõ nết na. Khi thiếu nữ thấm nhuần nữ huấn,
ngọc đeo thảy phô bày phong độ”.
Sau khi vua Gia Long mất (1819), Công chúa Ngọc Cơ mới 12 tuổi được theo bà Mỹ Nhân lên
hầu ở lăng Thiên Thọ ở làng Đình Môn. Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), Công chúa được hạ giá cho
Nguyễn Huỳnh Thành (sinh năm 1803) - con trai một công thần người Nam Bộ là Kiến Xương
Quận Công Nguyễn Huỳnh Đức.
Đám cưới diễn ra giữa thời kỳ huy hoàng nhất của triều Minh Mạng, giàu sang tột bậc. Bà rất
hạnh phúc bên cạnh Phò mã Huỳnh Thành (tên thụy Anh Mại) ở làng Vỹ Dạ. Ngày 12 tháng 3 năm
Tân Mão (1831) Công chúa Ngọc Cơ sinh cho họ Nguyễn Huỳnh người con trai đầu lòng đặt tên là
Nguyễn Huỳnh Võ. Lúc Võ chưa đầy năm thì Công Chúa lại có mang người con thứ hai. Gia đình
họ Nguyễn Huỳnh mừng vui hết sức.
Nhưng trong cõi vô thường không ai biết trước được vận mạng của mình: vừa qua mùa trăng
Trung Thu năm Nhâm Thìn (1832), ngày 16 tháng 8 Phò mã Anh Mại Nguyễn Huỳnh Thành mất
khi vừa đến được tuổi ba mươi. Chồng chết chưa đầy hai mươi hôm, ngày mồng 5 tháng 9 năm
Nhâm Thìn (1832) Công chúa sinh hạ thêm người con trai thứ hai và đặt tên Nguyễn Huỳnh Nghi.
Chuyện tử sinh, được mất sao mà cận kề đến thế!
Chồng mất sớm, Công chúa nương tựa tinh thần vào hai con. Nhưng nào có ngờ cả hai người
con bà cũng lần lượt giã từ bà: người em Nguyễn Huỳnh Nghi mất trước (18/12 Ất Mùi - 1835) và
người anh Nguyễn Huỳnh Võ mất sau (21/2 Đinh Dậu - 1837).
Trong vòng 6 năm bà chịu đựng hai lần sinh nở và 3 cái tang những người thân nhất của đời
bà. Công chúa trọng ơn nghĩa, giữ mãi tiết tháo trinh bạch, ở góa, giữ chí để vẹn tiết hạnh. Chuyện
sắc sắc không không, đời là bể khổ hiển hiện rõ ràng. Người không tin rồi cũng phải tin. Ngoài bà
mẹ già, Công chúa chỉ còn biết tựa vào chuông mõ và kinh kệ sớm hôm. Đúng như lời vua Tự Đức
viết về bà sau đó:
“Niềm từ bi thường dựa vào cõi Phật”.
Vào khoảng năm Mậu Tuất (1838) Công chúa xuống tóc xuất gia thọ giới sa-di với hòa thượng
Tánh Không và được đặt pháp danh Hải Châu. Bà thân mẫu Mỹ Nhân cũng qui y với pháp danh
Hải Thanh. Hai mẹ con cùng tu tại thảo am Linh Sơn Đông Thuyền thuộc ấp Cư Sĩ, làng Dương
Xuân Thượng, trên một đỉnh đồi thấp mà thoáng đãng.
Hình 4. Chùa Đông Thuyền ngày nay - nơi thờ phụng Công chúa Ngọc Cơ - con gái thứ 13 của vua Gia Long.
Thảo am do hòa thượng Tế Vỹ - một trong những cao túc của tổ Liễu Quán, khai sơn vào
khoảng giữa thế kỷ XVIII. Năm 1767, khi hòa thượng khai sơn vẫn còn tại thế, thảo am được tín
chủ Trương Văn Dạng và mẹ hiến cúng một khánh đồng. Sau khi Hòa thượng viên tịch, sư Đại
Quang hiệu Tuệ Chiếu kế tục trú trì. Trải qua những biến động cuối thế kỷ XVIII, thảo am thiếu sự
chăm sóc trở nên tiêu điều. Hơn 10 năm sau, sau khi vua Gia Long lên ngôi, tưởng nhớ đến dấu
tích một cao túc của tổ Liễu Quán, Hòa thượng Đạo Tâm Trung Hậu chùa Thuyền Tôn đã dựng lại
thảo am.
Lúc nầy người trong gia đình họ Nguyễn Huỳnh đều về quê trong Nam Bộ. Công chúa tuy đã
xuất gia nhưng vẫn phải lo việc thờ tự người thân trước mắt và lâu dài về sau. Bà mua đất và xây
dựng một từ đường ngay sau thảo am để làm nơi thờ tự chồng con, họ ngoại (Bắc Ninh) và chính bà
sau này.
Cùng lúc ấy, Công chúa lại chọn một cái gò cao ráo về phía đông thảo am Đông Thuyền ở cánh
đồng xứ Động Tường Yên, làng An Cựu, xây dựng một khu lăng có 5 huyệt mộ: Huyệt mộ chính
giữa là nơi chuẩn bị an táng mẹ khi bà Mỹ Nhân Nguyễn Đình Thị Vĩnh trăm tuổi, bên trái xây hai
uynh, một là mộ về sau của Công chúa, một là nơi cải táng ngôi mộ của Phò mã Nguyễn Huỳnh
Thành và bên phải xây hai uynh sẽ dời mộ cũ của hai con trai Huỳnh Võ và Huỳnh Nghi về đây.
Tất cả 5 huyệt mộ đều chọn tọa Ất, hướng Tân kiêm Mão Dậu. Tất cả chi phí công trình, kể đến ba
ngàn (quan), giao cho dân hai làng Dương Xuân thượng, Dương Xuân hạ canh giữ. Bà thường xuất
tiền cho người nghèo và giúp việc công ích trong xã. Bà cũng cấp ruộng cho dân hai xã Dương
Xuân (thượng, hạ) luân phiên canh tác lấy hoa lợi lo việc thờ cúng trong làng, trong đó có phần thờ
cúng bà và gia đình bà.
Việc Công chúa giao việc phụng thờ trong mai sau được vua Minh Mạng: “sai Phủ doãn phủ
Thừa Thiên thân sức cho hai làng ấy nối tiếp việc hậu thân của Trưởng công chúa, phàm tất cả
ngày kỵ hàng năm của vợ chồng Trưởng công chúa và mẹ công chúa đều do hai làng ấy sắm sửa
đầy đủ lễ phẩm cúng tế, để mãi mãi kéo dài việc phụng sự đời đời, nếu lâu ngày sinh trễ nải, tự
tiện sơ sài thì bị kinh doãn trừng trị”.
Dân hai làng Dương Xuân thượng và Dương Xuân hạ rất tự hào được làm người thực hiện việc
phụng thờ Công chúa Ngọc Cơ. Trên tấm bia dựng ở Từ đường Công chúa Ngọc Cơ vào năm Minh
Mạng thứ 19 (1838), dân hai làng ghi rõ qui định nêu trên của vua Minh Mạng và niềm tự hào của
dân hai làng như sau:
“Nay dân hai làng kính vâng các khoản trên, lo liệu mọi việc đã thành nề nếp, bậc hương
thân, người hiểu biết (trong hai làng) đã cùng nhau bàn bạc rằng:
Phẩm hạnh trinh tiết là điều ai cũng tôn trọng. Việc quốc gia đề cao phong hóa, các tiết phụ
liệt nữ được ban khen phổ biến khắp làng xóm. Hai làng ta sống giữa chốn đế đô thanh danh văn
vật, lễ nghĩa đã thấm nhuần sâu xa và lâu dài. Nhà trong làng may mắn có người ấy, đức ấy đối
với phong hóa thật là bổ ích.
Nghĩ rằng Công chúa lấy dung mạo trong trắng sánh cùng bậc trung thần huân tường,
hành vi ấy sáng trong lịch sử, tiết tháo dùi mài như thơ Bách Chu. Mà ân huệ của Công chúa lại
đủ để lan tới mọi người, lại càng tốt đẹp thay, không thể để cho mai một”.
Đến như nỗi lo sâu, ơn huệ xa, tính việc hương hỏa trăm năm, lại thấy rõ việc hiếu nghĩa,
thực đáng nết hay. Mà hai làng ta có lòng thành đội ơn báo đáp chẳng hẹn mà nên, lại càng làm
cho con cháu đời đời giữ gìn chẳng mất. Đó cũng là điều đáng viết vậy”.
Làm từ đường và khu lăng mộ xong, vào năm Thiệu Trị thứ hai (1842), Công chúa Ngọc Cơ lại
cùng với mẹ là bà Mỹ nhân Nguyễn Đình Thị Vĩnh, hai phi tần của vua cha Gia Long là Phan Văn
Thị Hạc, Đặng Công Thị Duyên (cũng có nơi viết là Lục) và hai bà chúa em là Ngọc Thành (Công
chúa thứ 16, con bà Hạc), Ngọc Trình (Công chúa thứ 18, con bà Duyên) phát tâm trùng tu thảo
am Linh Sơn Đông Thuyền thành một ngôi chùa lớn với quy mô gồm chánh điện (nhà vuông một
gian hai chái), phương trượng, tăng xá, thiền đường, hậu liêu hơn mười sở. Đồng thời cũng chú tạo
một tượng Phật Tam Thế, Phật Quan Âm bằng đồng và hầu hết các tượng khác cùng pháp khí
trong chùa. Đại hồng chung nặng 398 cân cũng chú tạo trong lần trùng tu này, do h...
 





