BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Tntna.jpg BANDOTUNHIEN.jpg BANDOHANHCHINH.jpg BANDODANCU.jpg BANDOKINHTE.jpg

    VĂN HỌC CẢM NHẬN TÁC PHẨM

    Định hướng nghề nghiệp 4.0 Xu hướng chọn nghề hiện nay

    Nam Bo voi trieu Nguyen va Hue Xua - Nguyen Dac Xuan

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 07h:46' 18-03-2024
    Dung lượng: 7.7 MB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    LỜI GIỚI THIỆU
    Quy cách biên tập
    Lời nói đầu
    Phần I. Chuyện kể
    Phụ nữ Nam kỳ làm vợ các vua Nguyễn
    Các ông Phò mã người Nam bộ
    Công chúa Ngọc Cơ - cháu ngoại tỉnh Bắc Ninh làm dâu Nam Bộ
    Vì sao nhà Nguyễn kiêng tên “Hoa”?
    Hoàng thái hậu Từ Dũ - một bậc mẫu nghi thiên hạ
    Phan Thanh Giản lấy thân mình cản bánh xe vua
    Diệp Văn Cương làm rể xứ Huế, làm thầy dạy Pháp văn đầu tiên cho người Huế
    Con gái Gò Công làm Hoàng hậu cuối cùng của triều Nguyễn
    Chuyện tình “Hương Giang dạ khúc” của Lưu hữu Phước
    Nghệ sĩ sân khấu Kim Cương có phải là cháu nội vua Thành Thái không?
    Nữ nghệ sĩ Kim Cương có phải là cháu nội vua Thành Thái không
    Phần II. Bút ký
    Giếng Ngự ở hòn Đảo Ngọc
    Nguyễn (Phúc) Ánh - Nguyễn Vương Hoàng đế Gia Long trong đời sống tâm linh của người
    dân An Giang
    Về thăm Nước Xoáy (Hồi Oa) - nơi khởi đầu thời kỳ Trung hưng của nhà Nguyễn tại Nam Bộ
    Ngày xuân đi thăm phủ thờ Tả tướng quân Lê Văn Duyệt tại Huế
    Đi viếng nhà thờ - lăng mộ Công chúa Qui Đức & Phò mã Phạm Thuật ở Huế
    Bạch Dinh ở Cap Saint-Jacque (Vũng Tàu) “Dinh vua Thành Thái”
    Phần III. Nghiên cứu
    Năm 1783, Nguyễn Ánh có chạy ra Côn Đảo hay không?
    Cuộc kháng chiến chống Pháp của Trương Định không nằm ngoài chủ trương của vua Tự Đức

    'Xuất' và 'Xử' trong cuộc đời chính trị của Trương Vĩnh Ký
    Souvenir de la vie d'un père Pour ses enfants
    Phần IV. Hỏi đáp
    Các chúa Nguyễn bắt đầu mở nước về phía Nam như thế nào và khi nào kết thúc?
    Có phải niên hiệu Gia Long, lấy từ tên Gia Định và Thăng Long không?
    Nơi nào trên Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có lịch sử gắn bó với đời tư các vua Nguyễn
    một cách sâu sắc?
    Ở Huế có một ngôi làng của người Nam Bộ?
    Phụ lục.
    Khóc cho tuổi già vô dụng
    Tái bút: Nói riêng với Nguyễn Đắc Xuân
    Sách và tài liệu tham khảo
    TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN - GÓC NHÌN SỬ VIỆT

    LỜI GIỚI THIỆU
    Bạn đọc thân mến!
    Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của riêng cá nhân nào, chính vì vậy, việc bảo tồn,
    gìn giữ và phát triển lịch sử văn hóa cũng không phải riêng một người nào có thể gánh vác được,
    nó thuộc về nhận thức chung của toàn xã hội và vai trò của từng nhân tố trong mỗi chặng đường
    lịch sử. Lịch sử là một khoa học. Lịch sử không phải là việc thống kê sự kiện một cách khô khan rời
    rạc. Bởi mỗi sự kiện trong tiến trình đó đều có mối liên kết chặt chẽ với nhau bằng sợi dây vô hình
    xuyên suốt không gian và thời gian tạo nên lịch sử của một dân tộc.
    Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần trăm năm dưới ách cai trị của thực
    dân, đế quốc, nhưng con cháu bà Trưng, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang
    Trung... vẫn kiên trì bền chí, tin tưởng ở quá khứ hào hùng, không ngừng tranh đấu hướng tới
    tương lai rộng mở vì độc lập tự do của đất nước.
    Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển, ngoài việc đẩy mạnh phát triển cơ
    sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật, điều quan trọng hơn nữa là phải có một nền tảng giáo dục vững chắc.
    Trong đó, giáo dục về lịch sử và lòng tự hào dân tộc là cần thiết để ghi khắc trong tâm trí các thế
    hệ, đặc biệt là tầng lớp thanh niên ý thức về nguồn gốc dân tộc, truyền thống văn hóa và nội lực
    quốc gia, đồng thời giúp định hình góc nhìn thấu đáo về vai trò của từng giai đoạn, triều đại và
    nhân vật - dù gây tranh cãi - tạo nên lịch sử đó.
    Chính vì những giá trị to lớn đó, vấn đề học tập, tìm hiểu lịch sử nước nhà hiện đang là mối
    quan tâm hàng đầu của Nhà nước và toàn xã hội. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Quỹ Phát triển
    Sử học Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay... và rất nhiều những tổ chức khác đã và đang kiên trì con
    đường thúc đẩy sự phát triển của nền khoa học lịch sử quốc gia, phổ biến tri thức lịch sử, góp phần
    giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc tới toàn xã hội.
    Đồng hành với mối quan tâm của toàn xã hội, Công ty Cổ phần Sách Alpha - một doanh
    nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, với tôn chỉ “Tri thức là sức mạnh” - đặc biệt quan tâm tới
    việc góp phần nâng cao hiểu biết của người dân về truyền thống văn hóa lịch sử đất nước.
    Theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu của bạn đọc cho thấy, “lỗ hổng lịch sử” ở không
    ít người trẻ hiện nay hoàn toàn có thể bù lấp một phần dựa trên nhiều nguồn tư liệu, công trình
    nghiên cứu, sách cổ sách quý hiện đang được các Viện nghiên cứu, các tổ chức, cá nhân lưu giữ. Để
    chung tay tái hiện một cách rõ nét những mảnh ghép lịch sử dân tộc, Công ty Cổ phần Sách Alpha
    đã triển khai dự án xuất bản mang tên Góc nhìn sử Việt với mục đích xuất bản lại và xuất bản
    mới một cách có hệ thống các công trình, tư liệu, sách nghiên cứu, sách văn học có giá trị… về lịch
    sử, bước đầu hình thành nên Tủ sách Alpha Di sản.
    Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một trong những sản phẩm đầu tiên của dự án này.
    Xin trân trọng giới thiệu.
    CÔNG TY CP SÁCH ALPHA

    Tủ sách “Góc nhìn sử Việt” ra đời mục đích giới thiệu đến bạn đọc những tác phẩm hay, có giá
    trị, đồng thời góp phần bảo lưu gìn giữ những giá trị văn hóa của đất nước. Để thực hiện bộ sách
    này, chúng tôi tuân thủ một số quy cách sau:
    1. Bảo toàn văn phong, nội dung nguyên gốc, từ ngữ mang đậm văn hóa vùng miền trong tác
    phẩm (trừ khẩu âm).
    2. Biên tập đối chiếu trên bản gốc sưu tầm được và có ghi rõ tái bản trên bản năm nào.
    3. Chú thích từ ngữ cổ, từ Hán Việt.
    4. Tra cứu bổ sung thông tin: tiểu dẫn, tiểu sử, sự kiện, nhân vật, phụ lục (nếu cần thiết)...
    5. Sửa lỗi chính tả trong bản gốc.
    6. Giản lược gạch nối từ ghép, khôi phục từ Việt hóa tiếng nước ngoài khi có đủ tài liệu tra cứu
    tin cậy (trừ trường hợp từ ngữ đó đã dịch thành thuần Việt).
    7. Trường hợp thông tin lịch sử trong sách có sai lệch so với chính sử, chúng tôi sẽ chú thích
    hoặc đăng phụ lục ở cuối sách.
    8. Một số hình ảnh trong sách gốc bị mờ, chất lượng kém… chúng tôi sẽ đăng bổ sung - thay thế
    các hình ảnh có nội dung tương tự, chất lượng tốt (nếu có).
    Mong đón nhận những ý kiến đóng góp của độc giả, hỗ trợ chúng tôi hoàn thiện tủ sách này.
    Alpha Books

    Lời nói đầu

    N

    ếu Thanh Hóa là nơi xuất phát của 9 đời chúa Nguyễn thì Nam Bộ là nơi trung hưng
    mở ra thời kỳ 13 đời vua Nguyễn ở Thuận Hóa - Phú Xuân. Do đó nghiên cứu triều
    Nguyễn và Huế xưa không thể không nghiên cứu lịch sử Nam Bộ và ngược lại không thể
    nghiên cứu lịch sử Nam Bộ nếu không nghiên cứu triều Nguyễn.

    Tôi là một nhà nghiên cứu không chuyên, vì ham thích lịch sử mà nghiên cứu chứ chưa hề
    được biên chế trong bất cứ một cơ quan nghiên cứu lịch sử văn hóa nào.
    Tôi biết lịch sử Nam Bộ qua các bộ sách của Quốc sử quan triều Nguyễn như Đại Nam Thực
    lục, Đại Nam Liệt truyện, Đại Nam Nhất Thống Chí, Gia Định Thành Thông Chí..., các sách của
    người Pháp viết về Nam Bộ thời thuộc Pháp... Đặc biệt qua các thầy và các bạn người Nam Bộ
    của tôi. Đó là các thầy Vương Hồng Sển, Trần Văn Khê, các bạn Nguyễn Văn Y, Sơn Nam, Lý
    Việt Dũng, Bảo Hội. Địa bàn nghiên cứu của tôi chỉ quanh quẩn ở miền Trung. Việc đi điền dã ở
    Nam Bộ của tôi có tính bất chợt hay do yêu cầu của một địa phương nào đó mời mà thôi. Do đó
    những gì tôi viết về Nam Bộ với triều Nguyễn và Huế xưa cũng có tính bất chợt nên thiếu hệ
    thống, thiếu toàn diện. Từ sau năm về hưu (1998), tôi dự định sẽ điền dã Nam Bộ một thời gian,
    viết bổ sung những gì cần viết về Nam Bộ. Anh Lý Việt Dũng cùng ở trong Hội đồng Khoa học
    của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học với tôi hứa sẽ đưa tôi điền dã Nam Bộ với anh. Nhưng sau
    đó sức khỏe anh Lý không cho phép, lời hứa đó chỉ còn là một kỷ niệm. Tiếp đến anh Nguyễn
    Phúc Bảo Hội (cháu nội vua Thành Thái, quê mẹ ở Sa Đéc, Việt Kiều Mỹ) có ý giúp tôi theo anh đi
    thăm những nơi chúa Nguyễn Vương (Nguyễn Phúc Ánh, sau nầy là vua Gia Long) đã từng
    “nằm gai nếm mật” ở Nam Bộ. Chuyến đi thực tế đầu tiên chúng tôi về vùng Nước Xoáy (Hồi Oa),
    một địa điểm thuộc huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) - nơi còn giữ được nhiều di tích liên quan đến
    Nguyễn Phúc Ánh. Tôi có bút ký “Về thăm Nước Xoáy (Hồi Oa)”. Không may sau đó ít lâu, anh
    Bảo Hội qua đời đột ngột. Chuyện điền dã những nơi chúa Nguyễn Vương từng qua của tôi phải
    tạm dừng.
    Biết tôi tha thiết với Nam Bộ, kiến trúc sư Hồ Viết Vinh tổ chức cho tôi đi Phú Quốc, nhà văn
    lão thành Vũ Hạnh chở tôi đi Gò Công, điêu khắc gia Thụy Lam đón tôi đi An Giang... Sau mỗi
    lần đi thực tế tôi đều có một vài bài viết nhớ đời.
    Tuy có nhiều cố gắng nhưng khi nhìn lại thì vẫn thấy “sự nghiệp cầm bút” của tôi với Nam Bộ
    vẫn còn sơ sài so với thực tế lịch sử. Rất tiếc là quỹ thời gian còn lại không cho phép tôi phấn đấu
    cho đầy đủ được. Để đời tôi có một kỷ niệm với bạn đọc Nam Bộ, tôi sưu tập lại tất cả những bài
    tôi đã viết mà nay có thể sưu tập được in thành cuốn sách nhỏ nầy. Qua đây, cũng là một giải
    đáp dành cho những bạn đọc muốn sưu tập bài viết của tôi về Nam Bộ.
    Nội dung các bài viết thuộc nhiều thể loại: Chuyện kể, bút ký, nghiên cứu, hỏi và đáp, thích
    hợp cho mọi tầng lớp từ người bình dân cho đến các nhà nghiên cứu.
    Là người miền Trung viết chuyện lịch sử của Nam Bộ nên không tránh được sai sót trong
    ngôn ngữ, tên người, tên đất ở các địa phương Nam Bộ. Kính mong được các bậc trưởng thượng
    chỉ giáo những chỗ bất cập để có dịp tái bản được hoàn chỉnh hơn.
    Xin đa tạ.
    Nguyễn Đắc Xuân

    ác chúa Nguyễn có công chinh phục và khai phá vùng đất Nam kỳ. Nhờ đó mà khi các
    chúa Nguyễn mất ngôi (1774), một người cháu của các chúa là Nguyễn Phúc Ánh đã sử
    dụng được nhân tài vật lực của Nam kỳ để khôi phục lại ngai vàng mở ra triều đại các vua
    Nguyễn sau nầy. Các quan lại giúp cho Nguyễn Phúc Ánh lập nên Đế chế Nguyễn là người
    Nam kỳ. Về sau một số con cái các quan người Nam kỳ làm dâu (phủ thiếp), làm rể (phò mã) các
    vua Nguyễn. Nhiều bà Phủ thiếp có chồng, có con, có cháu được nối ngôi vua, được phong Hoàng
    hậu, Hoàng Thái hậu, Thái hoàng Thái Hậu. Nhiều bà có đạo đức, có học vấn, có tuổi thọ cao nên
    ảnh hưởng lớn đến đời sống cung đình.
    Vua Gia Long có 21 bà vợ còn biết tên, nhưng chỉ có 3 người được Nguyễn Phước Tộc Thế Phả
    ghi tiểu sử. Đó là các bà: Thừa Thiên Cao Hoàng hậu Tống Thị Lan, người Huế gốc Thanh Hóa; bà
    Thuận Thiên Cao Hoàng hậu Trần Thị Đang người Huế; bà Đức Phi Lê Thị Ngọc Bình con vua Lê
    Hiển Tông, em cùng cha khác mẹ với Ngọc Hân Công chúa. Mười tám bà còn lại nhờ có con nên
    còn nhớ tên. Nhiều người khác không có con không ai nhớ tên. Có lẽ trong số những người làm vợ
    vua Gia Long có tên (không có tiểu sử) hoặc quên tên có nhiều người gốc Nam kỳ. Một người tài
    hoa và đam mê như vua Gia Long mà suốt 25 năm hoạt động ở Nam kỳ lẽ nào không có được một
    mối tình!
    Vua Minh Mạng có hàng trăm bà vợ, nhưng Nguyễn Phước Tộc Thế Phả cũng chỉ ghi tên 43
    bà (có con), trong số 43 bà đó cũng chỉ có một số ít bà được ghi tiểu sử. Trong số ít bà được chép
    tên đó có 4 người phụ nữ Nam kỳ. Đó là:
    1. Bà Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa (1791 - 1807), người huyện Bình An, Biên
    Hòa (nay là Thủ Đức TP. HCM), con gái Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi. Năm 15 tuổi, bà được vua
    Gia Long và Hoàng hậu Thuận Thiên tuyển chọn làm phủ thiếp cho Hoàng tử Đảm (sau nầy là vua
    Minh Mạng). Bà Hoa có tính dịu dàng, thận trọng, một lòng hiếu kính. Bà sinh Miên Tông (sau
    nầy là vua Thiệu Trị) được 13 ngày thì mất giữa tuổi 17. Vì kỵ húy tên Hoa của bà mà các vua
    Nguyễn cấm thần dân không được dùng từ “hoa”. Những tên có từ hoa đều phải đổi như: Cầu Hoa
    thành cầu Bông, tuồng hát Phàn Lê Hoa thành Phàn Lê Huê hay Phàn Lê Ba, cửa Đông Hoa
    thành cửa Đông Ba, tỉnh Thanh Hoa thành tỉnh Thanh Hóa...
    2. Bà Thục tần Nguyễn Thị Bảo (1801 - 1851), người Gia Định con quan Tư không
    Nguyễn Khắc Thiệu, bà vào hầu vua Minh Mạng từ lúc còn ở Tiềm Để(1), sau bà được tấn phong
    Thục tần. Bà Nguyễn Thục tần sinh được 4 hoàng tử, nhưng chỉ nuôi được một người là Miên Thẩm
    (1818 - 1870) và 3 bà công chúa: Vĩnh Trinh (1824 - 1892), Trinh Thận (1826 - 1904) và Tĩnh Hòa
    (1830 - 1882). Về sau cả bốn người con của bà trở thành những nhà thơ nổi tiếng nhất ở cố đô Huế.
    Đó là các ông bà Tùng Thiện Vương, Qui Đức, Mai Am, và Huệ Phố. Ngoài thơ, bốn người cháu
    ngoại Nam kỳ nầy còn giỏi nhạc (trong phủ Tùng Thiện có lập một đội nhạc riêng).
    3. Bà Hòa tần Nguyễn Thị Khuê, húy Bích Chi, người Phúc Lộc, Gia Định, con gái Chưởng
    cơ Nguyễn Văn Thanh, trấn thủ tỉnh Quảng Yên. Bà sinh 10 người con: 4 hoàng tử và 6 hoàng nữ.
    4. Bà Cung nhân Nguyễn Thị Nhân, người thứ 38 trong danh sách 43 bà phi có tên của
    vua Minh Mạng, quê ở Gia Định, con gái của Chính đội Nguyễn Văn Châu. Bà là sinh mẫu của
    Hoàng tử Miên Ký (1838 - 1881). Miên Ký là một thân thần giỏi văn chương triều Tự Đức nên được
    phong là Cẩm Quốc công.

    Vua Thiệu Trị có 3 bà vợ người Nam Bộ:

    Hình 1. Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (1810 - 1901) - Ảnh tư liệu của Bảo Hiền

    1. Bà Thái Hoàng hậu Từ Dũ, tên thật là Phạm Thị Hằng, người Gò Công, con gái
    Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng. Thuở nhỏ bà thích đọc sách, thông kinh sử, tính rất hiếu
    hạnh. Thuận Thiên Cao Hoàng hậu nghe tiếng bà hiền đức cho tuyển vào cung hầu Miên Tông
    (sau nầy là vua Thiệu Trị). Vì đức hạnh và thuận thảo nên bà được vua rất sủng ái. Bà là người kính
    cẩn, nghiêm trang, cử chỉ hợp lễ. Những lúc có khánh hạ, triều bái trong cung lúc nào bà cũng giữ
    đúng lễ nghi, mọi người trông dung mạo bà đều phải kính nể. Thời Thiệu Trị, bà giữ chức Thượng
    nghi kiêm cai quản tất cả các bà trong Lục nghi. Bà là tấm gương cần kiệm, nhân hậu, có ảnh
    hưởng lớn đối với vua Tự Đức. Bà ra đời thời Gia Long (1810), được tuyển vào cung thời Minh
    Mạng, làm vợ vua Thiệu Trị, làm mẹ vua Tự Đức, và sống tuổi già trải qua các đời Dục Đức, Hiệp
    Hòa, Kiến Phước, Hàm Nghi, Đồng Khánh và bà mất (năm 1901) thời Thành Thái (1889 - 1907)
    (gần 10 đời vua). Bà đã chứng kiến những sự kiện lịch sử lớn của đất nước và trong Hoàng cung xảy
    ra suốt chiều dài thế kỷ XIX.
    Người Nam kỳ, đặc biệt là người Gò Công hết sức trọng vọng bà, dù đường sá xa xôi khi có
    những của ngon vật lạ như mắm tôm, gỏi cá, trái sầu riêng, giáng châu (măng cụt), các giống lúa

    gạo thơm... họ đều đem ra dâng tiến cho bà. Người Huế có giống gạo thơm, biết làm mắm tôm, biết
    ăn gỏi cá từ ấy.
    2. Bà Lệnh phi Nguyễn Thị Nhậm, người An Giang, con của Kinh môn Quận công Nguyễn
    Văn Nhân, bà được tiến cung cùng một lần với bà Phạm Thị Hằng con gái Phạm Đăng Hưng, nhờ
    tước của cha nên Lệnh phi có vị thứ trước bà Phạm Thị Hằng. Tiếc cho Lệnh phi chỉ sinh được một
    hoàng nữ là Nhàn Yên (An Thạch Công chúa) nên về sau bà có thứ bậc sau bà Hằng.
    3. Bà Đức tần Nguyễn Thị Huyên, người gốc Thừa Thiên nhưng từ đời ông đã vào Gia
    Định, con gái Cai cơ Nguyễn Đức Xuyên. Bà là sinh mẫu của Hồng Diêu (1845 - 1875) hoàng tử thứ
    25 của vua Thiệu Trị.
    Vua Tự Đức có một bà vợ người Nam Bộ:
    Đó là bà Học phi Nguyễn Thị Hương, người Vĩnh Long, con ai không rõ. Năm 1870 bà
    theo lệnh vua Tự Đức nhận công tử Ưng Thị mới 2 tuổi - con trai Hường Cai - làm dưỡng tử, sau
    nầy Ưng Thị được tôn lên làm vua tức vua Kiến Phước.
    Tám ông vua sau Tự Đức (từ Dục Đức đến Khải Định) không vị nào có phi tần người Nam kỳ
    cả.
    Riêng ông vua cuối cùng Bảo Đại đi học Pháp về cưới bà Hoàng hậu Nam Phương Nguyễn
    Hữu Thị Lan (1914 - 1963) con gái nhà hào phú Nguyễn Hữu Hào ở Gò Công. Bà sinh được 2
    hoàng tử và 3 hoàng nữ: Bảo Long (1936), Phương Mai (1937), Phương Liên (1938), Phương Dung
    (1942), Bảo Thăng (1943). Sau khi vua Bảo Đại thoái vị (8/1945), bà sang Pháp sống với các con
    cho đến khi qua đời (1963).
    Do ảnh hưởng của các bà hoàng có thế lực gốc Nam kỳ trong cung Nguyễn nên giọng nói sang
    trọng nhất của các bà là giọng Huế pha Nam Bộ. Ví dụ các bà nói: Ba ngày tết thèm ăn một tô canh
    cá phác lác. Chín từ đầu nói giọng cổ của Huế, nhưng hai từ phác lác cuối cùng nói giọng mũi của
    Nam kỳ. Nhờ ảnh hưởng của các bà mà nhiều món ngon vật lạ đất Nam Kỳ được nhập về Huế.

    Các ông Phò mã người Nam bộ
    au khi mất ngôi Chúa vào tay quân Trịnh và nhà Tây Sơn, vào cuối thế kỷ XVIII, dòng họ
    Nguyễn ở xứ Đàng Trong trung hưng được là nhờ nhân tài vật lực của Nam Bộ. Sau ngày
    kháng chiến thành công, các quan lại chủ chốt của vua Gia Long là người Nam. Vì thế nhiều
    hoàng nữ của các vua đầu triều Nguyễn đã hạ giá(2) cho con trai các quan người Nam.

    S

    Người phò mã Nam Bộ đầu tiên của triều Nguyễn là Võ Tánh - người Biên Hòa, lấy Công chúa
    Ngọc Du, chị của vua Gia Long - con gái của Hưng Tổ Hiếu Khương hoàng đế. Ông Phò họ Võ đã
    trung thành tuyệt đối với sự nghiệp trung hưng của nhà Nguyễn. Võ đã cùng Ngô Tùng Chu tử thủ
    giữ thành Qui Nhơn, thu hút quân Tây Sơn để cho Nguyễn Phúc Ánh rảnh tay ra giải phóng Phú
    Xuân hồi mùa hè năm 1801. Trong văn tế ông, vua Gia Long đã hết lời ca ngợi tấm gương tuẫn tiết
    của ông. [Về sau cháu nội của ông là Hoài hầu Võ Văn Mỹ (con trai Võ Khánh) lấy Công chúa Lộc
    Thành (Uyển Diễm) - con gái thứ ba của vua Minh Mạng].
    Vua Gia Long có 18 hoàng nữ, nhưng chỉ có 14 người hạ giá, một nửa số đó hạ giá cho con các
    quan người Nam Bộ. Công chúa Bảo Thuận (Ngọc Xuyến, thứ 5) và Công chúa Định Hòa (Ngọc Cơ,
    thứ 13) hạ giá cho hai anh em ruột Nguyễn Huỳnh Toán - Nguyễn Huỳnh Thành, con Kiến Xương
    Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, người Định Tường. Hạ giá được ba năm thì chồng mất, Công chúa
    Định Hòa lập am ở làng Dương Xuân để ở thờ chồng. Cái am của bà được phát triển thành chùa
    Đông Thuyền thành phố Huế ngày nay.
    Hai công chúa An Thái (Ngọc Nga, thứ 7) và Nghĩa Hòa (Ngọc Nguyệt, thứ 9) hạ giá cho hai
    anh em ruột Nguyễn Đức Thiền và Nguyễn Đức Hỗ, người Thừa Thiên đã dời vào Gia Định từ đời
    ông, con của Khoái Châu Quận công Nguyễn Đức Xuyên.
    Công chúa An Nghĩa (Ngọc Ngôn, thứ 10), hạ giá cho Lê Văn Yến người gốc Quảng Ngãi vào
    Định Tường từ thời nội tổ, con trưởng của Lê Văn Phong, con thừa tự của Tổng trấn Gia Định Lê
    Văn Duyệt. Năm 1835, xử vụ án Lê Văn Duyệt, Yến bị tội chết, bà Chúa An Nghĩa thủ tiết thờ
    chồng cho đến cuối đời (1856).
    Công chúa Mỹ Khê (Ngọc Khuê, thứ 12), hạ giá cho ông Nguyễn Văn Thiện, người An Giang,
    con Kinh môn Quận công Nguyễn Văn Nhân.
    Công chúa Ngọc Thành (thứ 16) hạ giá cho ông Hồ Văn Thập, anh ruột bà Hồ Thị Hoa - mẹ
    vua Thiệu Trị, người Biên Hòa (nay thuộc Thủ Đức), con của Phúc Quốc công Hồ Văn Bôi. Về sau,
    con của Hồ Văn Thập là Hồ Văn Ngoạn (có lẽ không phải con của Công chúa Ngọc Thành) lấy
    Công chúa Xuân Vân (An Nhàn) hoàng nữ thứ 51 của vua Minh Mạng. Như thế trong nhà họ Hồ,
    người anh làm Phò mã vua Gia Long, người em làm dâu vua Minh Mạng, người cháu làm Phò mã
    vua Minh Mạng. Nhờ có nhiều người làm Hậu, làm Phò mã như thế nên ở nguyên quán Thủ Đức
    triều Nguyễn cho lập nhà thờ gọi là Hồ tộc từ đường.
    Vua Minh Mạng có 64 hoàng nữ, 12 người mất sớm, 52 người có gia thất, trong đó có 11 người
    hạ giá cho người Nam Bộ. Chuyện Phò mã Mỹ lấy Công chúa Lộc Thành, Phò mã Ngoạn lấy Công
    chúa Xuân Vân đã nói trên, 9 người còn lại là: Công chúa Vĩnh An (Hòa Thục, thứ 6) hạ giá cho
    Nguyễn Trường người Bình Dương, Gia Định, con trai của Thị vệ Nguyễn Văn Lộc. Công chúa An
    Trang (Trinh Đức, thứ 7), hạ giá cho Trần Văn Thạnh, người Bình Dương, Gia Định, con trai Thị
    Lang bộ Công Trần Văn Tính. Công chúa Định Mỹ (Đoan Thuận, thứ 10) hạ giá cho Đỗ Tài, người
    Tân Long, Gia Định, con trai Thống Chế Đỗ Quí; Công chúa Phú Mỹ (Đoan Trinh, thứ 11) hạ giá
    cho Đoàn Văn Tuyển, người Đông Xuyên, An Giang, con trai Tiền phong Dinh đô thống Đoàn Văn
    Sách; Công chúa Phương Duy (Vĩnh Gia, thứ 12) hạ giá cho Lê Tăng Mậu, người Bảo Hựu, Vĩnh
    Tường, con Thiếu bảo Ân Quang tử Lê Văn Đức; Công chúa Tân Hòa (Đoan Thuận, thứ 13) hạ giá
    cho Trịnh Hoài Cẩn, người Tân Long, Gia Định, con trai Thiếu Bảo Cần Chánh Điện Đại Học sĩ
    Trịnh Hoài Đức; Công chúa Mậu Hòa (Gia Trinh, thứ 15) hạ giá cho Trần Văn Đức, người Bình

    Dương, Gia Định, con trai Thống chế Tiền phong Dinh Bình Khánh Tử Trần Văn Trí; Công chúa
    Qui Đức (Vĩnh Trinh, thứ 18), em Tùng Thiện Vương hạ giá cho Phạm Đăng Thuật, em út bà Từ
    Dũ, người Tân Hòa, Gia Định, con trai Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng. Năm 1861, Pháp đánh
    Nam kỳ, Phò mã Thuật được lịnh vua Tự Đức đi thám sát, không may ông đã chết ở trận tiền. Công
    chúa thương tiếc, xin vua cho đưa xác Phò mã về Kinh và chịu đựng 10 năm khổ tiết thờ chồng.
    Công chúa Phương Hương (An Nhàn, thứ 41), hạ giá cho Hoàng Văn Ban, người Bình Long, Gia
    Định, con của Thự Tổng Đốc Hoàng Văn Ân.
    Vua Thiệu Trị có 35 hoàng nữ, 21 người mất sớm, chỉ có 14 người thành gia thất, người đứng
    đầu trong 14 hoàng nữ ấy là Công chúa Diên Phước (Tĩnh Hảo, thứ nhất), chị ruột vua Tự Đức đã
    hạ giá cho Nguyễn Văn Ninh, người Bảo Hựu, Vĩnh Long, con trai Hoàng Trung hầu Nguyễn Văn
    Trọng. Nhà thờ của bà có tên là Vĩnh Âm Viên ở đầu thôn Kim Long, phía bên trên đền thờ Đức
    Quốc Công Từ dành cho ông ngoại của bà. Bà còn được thờ ở chùa Diệu Đế - nơi trước kia vua cha
    Thiệu Trị đã ra đời.

    Hình 2. Di tích Cửa tam quan Vĩnh Âm viên. Ảnh NĐX.

    Có thể xem ông Nguyễn Văn Ninh là Phò mã chính thức cuối cùng của triều Nguyễn. Bởi vì
    hết đời Thiệu Trị qua đời Tự Đức, một phần Tự Đức không có con, một phần Nam Bộ bắt đầu
    kháng Pháp và lọt vào tay Pháp nên con trai Nam Bộ không còn cơ hội làm Phò mã nữa.
    Đến triều Thành Thái (1889 - 1907), các Công chúa con vua Thành Thái còn nhỏ nên chưa có
    Phò mã. Nhưng sau khi nhà vua bị tốn vị và đày sang đảo Réunion (1916), các Công chúa con vua
    bị đày lớn khôn có chồng, các chàng rể ông vua bị đày vẫn được thần dân xem là Phò Mã. Ông Phò
    mã người Nam Bộ nổi tiếng nhất của vua Thành Thái là luật sư Vương Quang Nhường.

    Hình 3. Luật sư Vương Quang Nhường. Ảnh. Souvrains et Notabilités d' Indochine.

    Luật sư Vương Quang Nhường sinh năm 1902, tại Yên Luông Đông, Gò Công. Học trường Mỹ
    Tho, du học Pháp, đậu Tiến sĩ Luật khoa. Về nước làm luật sư tòa Thượng thẩm Sài Gòn. Là người
    có học vấn cao, kiến thức rộng, Vương Quang Nhường được các giới thượng lưu Việt Pháp kính nể.
    Ông đính hôn với bác sĩ Henriette Bùi - con gái Bùi Quang Chiêu, người quê ở Mỏ Cày. Nhưng
    rồi chuyện đính hôn bất thành, không rõ trong trường hợp nào ông đi cưới bà Lương Nhàn
    (thường gọi là Mệ Cưởi) – con gái thứ 16 của vua Thành Thái, em ruột vua Duy Tân... Ông Phò họ
    Vương đã có công vận động thực dân Pháp cho vua Thành Thái được hồi hương (1947), rồi cùng
    với Công chúa Lương Nhàn nuôi dạy các con vua Duy Tân một thời gian và cuối cùng nhận chức
    Tổng trưởng Quốc gia giáo dục trong chính phủ Trần Văn Hữu và sau đó là chính phủ Nguyễn Văn
    Tâm.
    ***
    Các ông Phò mã Nam Bộ theo các bà chúa lập nghiệp ở Huế, và lập các chi nhánh của họ hàng
    mình ở Kinh đô. Con cháu các Phò mã và các quan lại người Nam Bộ khác là một bộ phận quan
    trọng của cư dân Huế ngày nay. Cố họa sĩ Phạm Đăng Trí - một hoạ sĩ Huế nổi tiếng, xuất thân
    trong gia đình một ông Phò gốc Nam Bộ như thế.
    Huế, Xuân 1996.

    ết thúc chiến tranh với Phong trào Tây Sơn trên đất Bắc (1802) vua Gia Long mở tiệc
    khao quân và hạ chiếu vỗ yên quân dân Bắc Hà. Nhà vua được nhiều dân sĩ ngưỡng mộ
    kéo nhau đến bái lạy chúc mừng. Nhiều gia đình đem con gái đẹp đến tiến cung. Họ
    Nguyễn Đình ở làng Nội Duệ, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn (tỉnh Bắc Ninh) đem tiến
    Nguyễn Đình Thị Vĩnh mới mười ba tuổi (sinh năm Canh Tuất, 1790) đoan trang đẹp đẽ khác
    thường. Vua Gia Long tuy đã có nhiều phi tần nhưng vẫn không từ chối được người đẹp xứ quan họ
    Bắc Ninh. Sau đó cô gái quan họ được ngồi xe vua về Phú Xuân, và được phong dần lên Hữu Cung
    Tân, đứng thứ 14 trên 21 hậu và phi (chưa kể một số bà không rõ tên và lai lịch).
    Lúc bà Tân vào hầu, vua Gia Long đã lớn tuổi, đã sẵn có hàng chục hậu và phi đã theo vua từ
    hồi còn chinh chiến, vì thế ít khi bà được gần gũi ông vua đã thống nhất Việt Nam, phục hưng triều
    Nguyễn. May sao, cuối năm Đinh Mão (1807) bà được gần vua và đến giờ thân ngày 22 tháng 7
    năm Mậu Thìn (1808) bà sinh hạ được Công chúa thứ 13 đặt tên là Ngọc Cơ. Bà Tân được phong
    lên Mỹ Nhân. Bà nuôi dạy Ngọc Cơ hết sức chu đáo. Công chúa thứ 13 càng lớn lên càng tỏ rạng
    phong cách dòng dõi lá ngọc cành vàng, đầy đủ các đức công dung ngôn hạnh. Nhờ thế mà về sau,
    vua Tự Đức trong một cáo mệnh đã khen Công chúa là một “nhánh bạc tỏa sáng, cành vàng tươi
    nụ. Lúc trẻ thơ sớm quen dạy dỗ, khăn đai đều tỏ rõ nết na. Khi thiếu nữ thấm nhuần nữ huấn,
    ngọc đeo thảy phô bày phong độ”.
    Sau khi vua Gia Long mất (1819), Công chúa Ngọc Cơ mới 12 tuổi được theo bà Mỹ Nhân lên
    hầu ở lăng Thiên Thọ ở làng Đình Môn. Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), Công chúa được hạ giá cho
    Nguyễn Huỳnh Thành (sinh năm 1803) - con trai một công thần người Nam Bộ là Kiến Xương
    Quận Công Nguyễn Huỳnh Đức.
    Đám cưới diễn ra giữa thời kỳ huy hoàng nhất của triều Minh Mạng, giàu sang tột bậc. Bà rất
    hạnh phúc bên cạnh Phò mã Huỳnh Thành (tên thụy Anh Mại) ở làng Vỹ Dạ. Ngày 12 tháng 3 năm
    Tân Mão (1831) Công chúa Ngọc Cơ sinh cho họ Nguyễn Huỳnh người con trai đầu lòng đặt tên là
    Nguyễn Huỳnh Võ. Lúc Võ chưa đầy năm thì Công Chúa lại có mang người con thứ hai. Gia đình
    họ Nguyễn Huỳnh mừng vui hết sức.
    Nhưng trong cõi vô thường không ai biết trước được vận mạng của mình: vừa qua mùa trăng
    Trung Thu năm Nhâm Thìn (1832), ngày 16 tháng 8 Phò mã Anh Mại Nguyễn Huỳnh Thành mất
    khi vừa đến được tuổi ba mươi. Chồng chết chưa đầy hai mươi hôm, ngày mồng 5 tháng 9 năm
    Nhâm Thìn (1832) Công chúa sinh hạ thêm người con trai thứ hai và đặt tên Nguyễn Huỳnh Nghi.
    Chuyện tử sinh, được mất sao mà cận kề đến thế!
    Chồng mất sớm, Công chúa nương tựa tinh thần vào hai con. Nhưng nào có ngờ cả hai người
    con bà cũng lần lượt giã từ bà: người em Nguyễn Huỳnh Nghi mất trước (18/12 Ất Mùi - 1835) và
    người anh Nguyễn Huỳnh Võ mất sau (21/2 Đinh Dậu - 1837).
    Trong vòng 6 năm bà chịu đựng hai lần sinh nở và 3 cái tang những người thân nhất của đời
    bà. Công chúa trọng ơn nghĩa, giữ mãi tiết tháo trinh bạch, ở góa, giữ chí để vẹn tiết hạnh. Chuyện
    sắc sắc không không, đời là bể khổ hiển hiện rõ ràng. Người không tin rồi cũng phải tin. Ngoài bà
    mẹ già, Công chúa chỉ còn biết tựa vào chuông mõ và kinh kệ sớm hôm. Đúng như lời vua Tự Đức
    viết về bà sau đó:
    “Niềm từ bi thường dựa vào cõi Phật”.
    Vào khoảng năm Mậu Tuất (1838) Công chúa xuống tóc xuất gia thọ giới sa-di với hòa thượng

    Tánh Không và được đặt pháp danh Hải Châu. Bà thân mẫu Mỹ Nhân cũng qui y với pháp danh
    Hải Thanh. Hai mẹ con cùng tu tại thảo am Linh Sơn Đông Thuyền thuộc ấp Cư Sĩ, làng Dương
    Xuân Thượng, trên một đỉnh đồi thấp mà thoáng đãng.

    Hình 4. Chùa Đông Thuyền ngày nay - nơi thờ phụng Công chúa Ngọc Cơ - con gái thứ 13 của vua Gia Long.

    Thảo am do hòa thượng Tế Vỹ - một trong những cao túc của tổ Liễu Quán, khai sơn vào
    khoảng giữa thế kỷ XVIII. Năm 1767, khi hòa thượng khai sơn vẫn còn tại thế, thảo am được tín
    chủ Trương Văn Dạng và mẹ hiến cúng một khánh đồng. Sau khi Hòa thượng viên tịch, sư Đại
    Quang hiệu Tuệ Chiếu kế tục trú trì. Trải qua những biến động cuối thế kỷ XVIII, thảo am thiếu sự
    chăm sóc trở nên tiêu điều. Hơn 10 năm sau, sau khi vua Gia Long lên ngôi, tưởng nhớ đến dấu
    tích một cao túc của tổ Liễu Quán, Hòa thượng Đạo Tâm Trung Hậu chùa Thuyền Tôn đã dựng lại
    thảo am.
    Lúc nầy người trong gia đình họ Nguyễn Huỳnh đều về quê trong Nam Bộ. Công chúa tuy đã
    xuất gia nhưng vẫn phải lo việc thờ tự người thân trước mắt và lâu dài về sau. Bà mua đất và xây
    dựng một từ đường ngay sau thảo am để làm nơi thờ tự chồng con, họ ngoại (Bắc Ninh) và chính bà
    sau này.
    Cùng lúc ấy, Công chúa lại chọn một cái gò cao ráo về phía đông thảo am Đông Thuyền ở cánh
    đồng xứ Động Tường Yên, làng An Cựu, xây dựng một khu lăng có 5 huyệt mộ: Huyệt mộ chính
    giữa là nơi chuẩn bị an táng mẹ khi bà Mỹ Nhân Nguyễn Đình Thị Vĩnh trăm tuổi, bên trái xây hai
    uynh, một là mộ về sau của Công chúa, một là nơi cải táng ngôi mộ của Phò mã Nguyễn Huỳnh
    Thành và bên phải xây hai uynh sẽ dời mộ cũ của hai con trai Huỳnh Võ và Huỳnh Nghi về đây.
    Tất cả 5 huyệt mộ đều chọn tọa Ất, hướng Tân kiêm Mão Dậu. Tất cả chi phí công trình, kể đến ba
    ngàn (quan), giao cho dân hai làng Dương Xuân thượng, Dương Xuân hạ canh giữ. Bà thường xuất
    tiền cho người nghèo và giúp việc công ích trong xã. Bà cũng cấp ruộng cho dân hai xã Dương
    Xuân (thượng, hạ) luân phiên canh tác lấy hoa lợi lo việc thờ cúng trong làng, trong đó có phần thờ
    cúng bà và gia đình bà.
    Việc Công chúa giao việc phụng thờ trong mai sau được vua Minh Mạng: “sai Phủ doãn phủ
    Thừa Thiên thân sức cho hai làng ấy nối tiếp việc hậu thân của Trưởng công chúa, phàm tất cả
    ngày kỵ hàng năm của vợ chồng Trưởng công chúa và mẹ công chúa đều do hai làng ấy sắm sửa
    đầy đủ lễ phẩm cúng tế, để mãi mãi kéo dài việc phụng sự đời đời, nếu lâu ngày sinh trễ nải, tự

    tiện sơ sài thì bị kinh doãn trừng trị”.
    Dân hai làng Dương Xuân thượng và Dương Xuân hạ rất tự hào được làm người thực hiện việc
    phụng thờ Công chúa Ngọc Cơ. Trên tấm bia dựng ở Từ đường Công chúa Ngọc Cơ vào năm Minh
    Mạng thứ 19 (1838), dân hai làng ghi rõ qui định nêu trên của vua Minh Mạng và niềm tự hào của
    dân hai làng như sau:
    “Nay dân hai làng kính vâng các khoản trên, lo liệu mọi việc đã thành nề nếp, bậc hương
    thân, người hiểu biết (trong hai làng) đã cùng nhau bàn bạc rằng:
    Phẩm hạnh trinh tiết là điều ai cũng tôn trọng. Việc quốc gia đề cao phong hóa, các tiết phụ
    liệt nữ được ban khen phổ biến khắp làng xóm. Hai làng ta sống giữa chốn đế đô thanh danh văn
    vật, lễ nghĩa đã thấm nhuần sâu xa và lâu dài. Nhà trong làng may mắn có người ấy, đức ấy đối
    với phong hóa thật là bổ ích.
    Nghĩ rằng Công chúa lấy dung mạo trong trắng sánh cùng bậc trung thần huân tường,
    hành vi ấy sáng trong lịch sử, tiết tháo dùi mài như thơ Bách Chu. Mà ân huệ của Công chúa lại
    đủ để lan tới mọi người, lại càng tốt đẹp thay, không thể để cho mai một”.
    Đến như nỗi lo sâu, ơn huệ xa, tính việc hương hỏa trăm năm, lại thấy rõ việc hiếu nghĩa,
    thực đáng nết hay. Mà hai làng ta có lòng thành đội ơn báo đáp chẳng hẹn mà nên, lại càng làm
    cho con cháu đời đời giữ gìn chẳng mất. Đó cũng là điều đáng viết vậy”.
    Làm từ đường và khu lăng mộ xong, vào năm Thiệu Trị thứ hai (1842), Công chúa Ngọc Cơ lại
    cùng với mẹ là bà Mỹ nhân Nguyễn Đình Thị Vĩnh, hai phi tần của vua cha Gia Long là Phan Văn
    Thị Hạc, Đặng Công Thị Duyên (cũng có nơi viết là Lục) và hai bà chúa em là Ngọc Thành (Công
    chúa thứ 16, con bà Hạc), Ngọc Trình (Công chúa thứ 18, con bà Duyên) phát tâm trùng tu thảo
    am Linh Sơn Đông Thuyền thành một ngôi chùa lớn với quy mô gồm chánh điện (nhà vuông một
    gian hai chái), phương trượng, tăng xá, thiền đường, hậu liêu hơn mười sở. Đồng thời cũng chú tạo
    một tượng Phật Tam Thế, Phật Quan Âm bằng đồng và hầu hết các tượng khác cùng pháp khí
    trong chùa. Đại hồng chung nặng 398 cân cũng chú tạo trong lần trùng tu này, do h...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn. (Barack Obama)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT CAO THẮNG - THỪA THIÊN HUẾ !