Định hướng nghề nghiệp 4.0 Xu hướng chọn nghề hiện nay
Tinh Ca Cho Hue Do Nat - Nha Ca

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 07h:48' 18-03-2024
Dung lượng: 573.6 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 07h:48' 18-03-2024
Dung lượng: 573.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TÌNH CA CHO HUẾ ĐỔ NÁT
Tác giả: Nhã Ca
Tiểu thuyết
Ebook: Cuibap
Text: talawas.org
1.
Thư Gửi Tuổi Thơ Ấu Của Huế
Mi Ki thân mến,
Tôi phải nói với Ki về thành phố đó. Chúng ta đã sinh ra, đã sống ở đó, ít
nhất là một phần của tuổi thơ ấu. Tuổi thơ ấu của Ki đã cho tôi thật đầy đủ.
Những ngày ở bãi biển Thuận An, đi lang thang ngoài biển, bắt cào cào, đào
trộm khoai, chơi cút bắt, hay thơ thẩn một mình ngoài đồng rộng chạy đuổi
theo những bông cỏ lăn theo gió. Tắm ở phá Tam Giang, giữa trưa nắng, cát
nóng bỏng như lửa. Ki đã chạy nhảy, chân giẫm từ đám cỏ khô này qua đám
cỏ khô khác để tới rừng dương, nhìn một cái hồ nhỏ đầy cá mặt trăng. Cá mặt
trăng, những mặt trăng nhỏ, trắng muốt của tuổi thơ chúng ta tung tăng trên
mặt hồ, bên những cành dương rủ bóng, kênh kiệu một cách đáng yêu với bờ
đê, với bãi biển kêu gọi, rủ rê suốt ngày tháng.
Rời bỏ Thuận An, Ki bé nhỏ, quê mùa của tôi bước chân lên thành phố.
Bỡ ngỡ và rụt rè, bị bắt nạt, nước mắt, đó là đặc điểm của Ki thời đó. Bị bắt
nạt là đáng lắm, bởi Ki chỉ biết có bãi cát trắng phau, với những đợt sóng
liếm vào bờ suốt ngày không biết chán. Ki chỉ biết có những con đường làng
cát bẩn rụng đầy hột keo khô, lẫn với vỏ nghêu, vò sò vỡ. Bị ném vào một
thành phố đầy trẻ con tinh ranh, Ki làm sao chống đỡ nổi. Tội nghiệp Ki của
tôi hồi tám chín tuổi với một phố Huế xa lạ, giục giã sự tò mò. Ki vẫn giữ
khuôn mặt đen dịu, đôi mắt vàng chói nắng biển, mái tóc cắt ngắn kiểu con
trai, mặc quần sọt với áo sơ mi bởi vì ba chúng ta muốn có một đứa con gái
ngộ nghĩnh hơn là xinh đẹp. Ki bắt đầu đi học, Ki có bạn mới, Ki quên bãi
biển Thuận An, quên làng quê buồn hiu nhưng thơ mộng đến nỗi có những
đêm mơ thấy bầy cá mặt trăng bơi lội tung tăng trên mặt hồ đớp ánh sáng
xanh mát, hoặc những cành dương dài như những cánh tay khẳng khiu vẫy
vẫy, Ki đã khóc trong giấc ngủ. Hoặc đôi khi đang ngồi trong lớp học, Ki
bỗng nghe thấy một âm thanh gì rì rào quen thuộc, Ki nôn nao cả người và
chợt nhớ ra âm thanh đó giống tiếng sóng biển mà Ki đã nghe hoài huỷ hồi ở
quê mẹ. Chúng ta thực tức cười phải không Ki, hồi đó chúng ta cứ tưởng Huế
với Thuận An là hai miền xa cách như bây giờ Sài Gòn với Hà Nội vậy. Vừa
biết Huế, gia đình ta ở An Cựu, cạnh nghẹo đường xay. Chúng ta có thể chạy
lông bông, nhưng không còn được thong thả như hồi ở nhà quê nữa vì chúng
ta phải canh chừng những chiếc xe nhà binh với những ông Tây to lớn, mặt
luôn luôn đỏ kè như say rượu. Chúng ta thấy phía này có ruộng, phía kia có
bờ sông, có cầu đúc nối sang bên chợ. Ki có còn nhớ cây bông búp cao mọc ở
cạnh chân cầu đó chớ. Cây búp mà chúng ta thường ao ước nhặt những búp
khô rụng, thổi phồng lên như đã từng thổi chiếc bong bóng lợn của dượng
Tin cho hồi còn ở Thuận An. Thêm một hai tuổi gì đó, chúng ta rời An Cựu,
được gửi học nơi nhà một ông giáo nhà ở tít dưới Mù U, Ki đã trốn học, đã
khóc và bị ăn roi đến quắn đít vì bướng. Ki đi học đàng hoàng. Mùa nắng Ki
mặc áo hoa, đi guốc. Mùa mưa, Ki còn nhớ không, chúng ta mang cái tơi
bằng lá, tròng từ đầu xuống cổ, có sợi dây thừng nhỏ rút trước cổ, buộc chặt
cho gió khỏi bay. Ngôi trường tiểu học ở thật xa tít giữa bãi hoang có nhiều
đất sét. Xung quanh lại có nhiều mồ mả nữa. Những đứa trẻ tinh quái thường
doạ có nhiều mả Tàu Ô lắm, rồi chúng ta được nghe nhiều chuyện kinh hoàng
về giặc Tàu Ô. Nhà chúng ta ở nơi một con đường rất dốc. Dốc cao đến nỗi
người lớn nói đứng trên đầu dốc có thể nhìn thấy cột cờ Phú Văn Lâu. Nhưng
Ki nghểnh cổ, nhón chân, cũng chỉ nhìn thấy những đọt phượng mùa hè đầy
bóng đỏ rực, mùa đông lủng lẳng những quả dài sắc cong như lưỡi mác. Phía
trên đầu dốc kia là Đàn Nam Giao, nghe nói đường đi xa lắm, chân của Ki thì
quá ngắn. Cho tới khi tôi đi được chiếc xe đạp, ngang qua con đường đất
vòng quanh Đàn Nam Giao, tôi cười mãi về sự tưởng tượng của Ki hồi còn
nhỏ, và nhớ Ki như một phần hồn, phần thơ ngây của mình đã mất vĩnh viễn.
Ki còn nhớ không, trước mặt nhà chúng ta là ngôi nhà cô bạn nhỏ tên
Chín. Trước sân nhà Chín có vài cây nhãn, dưới gốc cây bọn con nít thường
chơi trò buôn bán với vỏ hến, lá cây hoặc những sa thạch vò nát đẹp phơi
nắng. Bọn nhỏ còn đánh thẻ, đánh thẻ nẻ đau, đôi khi bầm tím cả đôi chân.
Tụi nhỏ còn đánh ô làng bằng hạt cây thầu đâu, cây thầu đâu mà khi lớn lên
tôi biết nó còn được gọi thêm hai ba tên là sầu đâu hay sầu đông cũng được.
Trong căn nhà của Chín, Ki thường hay thắc mắc về một ông cụ già mà
người lớn gọi là ông Huyện. Ông thường đội khăn đóng, mặc áo dài đen, mỗi
lần sang Chín chơi trông thấy ông Ki thường núp sau bể cạn. Người ta nói
thời trước ông Huyện oai lắm, ông làm quan, dân đi ngang qua nhà phải cúi
đầu không thì bị lôi vô đánh đòn. Ki không những cúi đầu mà còn trốn biệt
sau chiếc bể cạn, Ki sợ đánh đòn lắm. Nhưng ông Huyện hiền lành lắm, ông
lôi Ki ra chỗ núp cười bảo vô nhà chơi với Chín. Ông nhìn tụi nhỏ nghịch đất
cát, ông ngồi ngắm mấy chậu cây. Ki vô nhà thấy có treo tấm ảnh của ông
lớn lắm, ông ngồi trên chiếc ghế chạm trổ có lính hầu đứng quạt nữa. Một
tấm gỗ láng bóng nổi lên ba chữ nho to tướng như bằng vàng, giữa nhà có sập
gụ. Ki lấy làm ngạc nhiên vì nhiều nhà có những thứ lạ mắt như thế. Huế
cũng quyến rũ Ki lắm chứ, những ngày đi học, ghé vô sân chùa lượm me
rụng, đào rụng, hay tha thẩn dọc đường hái trái ngũ sắc chín đen, trái mắm
ruóc chín vàng, ăn ngọt đỡ khát nước. Dần dà Ki quen với Huế, thân với Huế
hẳn hoi, Ki thường ngẩn ngơ ngắm những chị lớn tóc xoã dài, áo trắng đội
nón lá, đi thướt tha yểu điệu. Trông họ đẹp và rườm rà quá. Rồi chính Ki, Ki
cũng bỗng theo họ từ lúc nào. Nhưng khổ thay càng ngày Ki càng thấy trong
cái thân thể Ki đang trú ngụ bỗng xa rời Ki mãi. Cho tới lúc cái thân thể đó rũ
bỏ chiếc áo ngắn để thay bằng chiếc áo dài lụa đầu tiên, mái tóc ngắn được
nuôi dài và biết che bằng nón lá. Nó đã hất hủi ánh nắng mặt trời vàng tươi
Ki mang từ biển, tay chân nó đã chê bỏ những cơn gió mùa hè ngây ngất, mắt
nó, mũi nó đã rời xa mùi hoa khế, mùi me chua, lạnh lùng với bông hoa ngũ
sắc, thì Ki hoàn toàn bị bỏ rơi rồi. Tôi mất luôn Ki, mất mà không biết Ki đã
bỏ tôi đi từ lúc nào, chỉ biết có một lúc giật mình thấy có đứa bé trong hồn
mình bỏ đi biệt tích, bỏ đi một cách lặng lẽ, không để lại một dấu vết gì nữa.
Ki thân mến,
Gợi lại để Ki biết là tôi vẫn còn nhớ tới Ki, không phải là nhớ nữa, mà là
một kỷ niệm, một khát khao để tôi tìm về trong bất cứ năm tháng nào, nếu có
dịp. Nhưng bây giờ nhìn về, có nhớ nhung thắm thiết bao nhiêu thì sự thắm
thiết đó cũng chỉ nhắc nhở tôi khoảng cách lớn dần ra mãi. Tôi càng nhắc
càng chứng tỏ tôi càng bỏ xa Ki biệt mù. Nhưng hôm nay tôi phải nhắc lại
với Ki để nói về một thành phố. Vì chỉ có Ki mới đủ thẩm quyền để bắt tôi
phải than thở, phải đau đớn, phải khóc lóc. Và tôi muốn cho Ki biết tôi đã đi
đứng, ăn nói, thương yêu thù ghét thành phố của tuổi thơ đó như thế nào.
không nói thì Ki cũng có thể biết, bởi vì trong những năm sống ở Huế, làm
một cô gái Huế xoã tóc, đội nón, đi guốc trắng, thỉnh thoảng trên đường về
một mình, bên cạnh bụi hoa ngũ sắc tôi còn trông thấy hình ảnh Ki, tóc cắt
ngắn, quần sọt, áo sơ mi, đôi mắt mang màu nắng của biển vừa đứng ở đó,
đứng ở đó rồi biến đi rất nhanh làm tôi bàng hoàng như mình đánh mất một
thứ, một thứ thiêng liêng ghê lắm thương yêu ghê lắm, tiếc ghê lắm mà
không thể nào trở về với nó được. Không thể trở về vì hai người đang cố tình
trốn chạy nhau. Còn nhiều dịp nữa, trong những lần nhìn những cô bé con
chơi buôn bán, đánh thẻ, đánh ô làng, nghịch đất, tôi thấy trong tâm hồn tôi ló
ra một nhánh hồn bé nhỏ muốn với tới, một cô bé nào đó ngoảnh mặt nhìn tôi
với nụ cười nửa mỉa mai nửa khinh bỉ. Ki đó phải không?
Nhưng tôi cũng phải quên Ki đi ngay. Quên Ki để đạp xe đạp qua cầu
Tràng Tiền với bè bạn. Quên Ki để làm những cuộc đi chơi xa hơn, thích
hơn. Tôi biết nhiều về Huế quá. Tôi đi hết những lăng tẩm. Tôi biết chuyện vì
sao ông Huyện có bức ảnh chụp với lính quạt hầu lại có nụ cười hiền lành dễ
thương đến thế. Tôi còn biết cả lịch sử huy hoàng của Huế khi đặt chân đến
Đại Nội nữa. Chiếc ngai bằng vàng, những chậu cây bằng vàng trái ngọc,
những Đàn Nam Giao tế trời tế đất. Tôi nghe tiếng chuông Linh Mụ với một
tâm hồn dào dạt mơ mộng chớ không như Ki hồi trước, chỉ ru giấc ngủ hoặc
để đánh thức thời giờ đòi quà buổi sớm mai. Tôi còn biết thưởng thức bao vị
chua cay của Huế, đi ăn bánh bèo, bún bò, bánh khoái. Tôi tập thú đi chơi
một mình, mơ mộng một mình. Những ngày mưa tầm tã, bầu trời thảm đạm,
một mình một áo mưa đi lang thang, gió đánh rát cả da mặt, mặt nước sông
Hương mù mịt nước. Chân đạp trên bao lá khô. Tất cả như mù mịt hết. Dòng
sông, nhịp cầu, trường học, những ngôi nhà che kín trong khu vườn rộng, tất
cả nhòe nhoẹt trong mưa hết. Tôi cười lại Ki, tôi làm gì có những phút thoát
trần như thế.
Tôi cũng phải nhắc tới tình yêu trong thành phố đó cho Ki nghe nữa.
Những hoàng tử áo xanh, những công chúa áo vàng ngày thứ Hai đầu tuần.
Những lá thư tình viết thả rơi. Những cái liếc mắt sau vành nón… Một mối
tình như một cơn giông bão từ phương nào ồ ạt đến. Thơ mộng, lãng mạn,
đau đớn sung sướng, nước mắt, thôi thì đủ cả. Có lúc nào Ki đứng đằng sau
tôi, trước mặt tôi nhìn tôi lúc đó không? Tôi có đáng được sung sướng đau
khổ như thế không? Và Ki ơi, Ki có biết được ngày tôi bỏ Huế?
Lúc lên máy bay, chuyến đi đầu tiên để bỏ thêm một phần hồn thân yêu
của mình nữa. Có cô gái che vành nón liếc ánh mắt tiễn đưa. Nhưng tôi đã
bay rồi. Tôi bay để làm một chuyến đi cách xa Ki thêm mãi, và cách xa cô
gái kia mãi mãi.
Từ đó tôi ít khi nghĩ tới thành phố đó lắm. Tôi lăn vào đời, tôi đẻ ra những
tuổi thơ, tôi nhìn những tuổi thơ đó lớn lên, tôi nuôi tuổi thơ con cái, nhìn
tuổi thơ đó như nhìn Ki hồi nhỏ. Nhưng Huế thì như một cái bóng thật mờ
lấp ló đằng sau cuộc đời mình, đôi lúc cho lại tôi vài phút êm đềm, nhưng
cũng hiếm hoi lắm.
Tôi không còn thì giờ để nhớ tới đàn cá mặt trăng trong chiếc hồ nhỏ lẻ loi
giữa rừng dương. Tôi quên khuấy mất những hột keo khô rơi lấm tấm đầy
trên con đường làng cát bẩn. Tôi quên ánh nắng mặt trời trên bãi cát hung
vàng mái tóc Ki. Có nhiều lúc nhìn nụ cười con thơ, nhìn chúng tò mò coi
một chú gián bò trong góc nhà, tôi nghe tiếng ai hỏi trong đầu: Nhớ tôi
không? Nhớ bầy đom đóm nơi đường rầy không? Nhớ cây khế nơi nhà ông
xếp ga không? Nhớ đàn cá mặt trăng không? Ki ơi, tệ quá, nào tôi còn nhớ gì
nổi.
Ki tha thứ cho tôi nhé. Đừng giận bởi vì đã có lúc tôi nhớ ra Ki rõ lắm,
nhớ như mình nhớ mình thì làm sao không rõ ràng được. Đó là lần tôi về Huế
để gặp mặt lần cuối ba của tôi. Quên, ba của Ki và tôi chứ. Lúc khóc lóc đã
mệt, vật vã đã rừ hết tay chân, tôi bất chợt nhìn ra kẽ hở của song cửa. Một
bụi cây Ki ơi. Từ một bụi cây dẫn tôi ra một đường phố, một đường phố dẫn
ra một trường học, một khu vườn. Chúng rủ tôi đi xa nữa, một bãi biển, một
mặt hồ đầy cá mặt trăng, một khu vườn sầm uất của Trấn Hải Đài ở Thuận
An nữa. Tôi nhìn thấy Ki đi trên bờ thành luỹ. Tôi nhìn thấy Ki ngã từ trên
nhánh ổi xuống và ba chạy tới vội vã bế Ki lên. Tôi còn thấy chiếc sân rộng
trong khu Trấn Hải Đài ngày ba ngồi thắt cho Ki hai chiếc gióng mây và
chuốt cho Ki cái đòn gánh tre để Ki giả đò đi gánh nước. Nhiều nơi nữa,
trong sân ở một ngôi nhà ở An Cựu, ba bế Ki ngồi lên lòng và hai chân ba
rung rung. Cả chiếc xe đạp cũ kỹ mà ba thường đặt cái gối bông nhỏ đằng sau
bót ba ga, bắt Ki ngồi ôm lưng thật chặt để ba thả xe chạy xuống con dốc
Nam Giao đi sang phố mua cho con búp bê nhỏ. Nhưng hình ảnh đó cũng
chớp nhanh lắm để trả tôi với bụi cây trước mắt. Những lá xanh đang thẫm
màu dần nhưng còn bám vài tia nắng yếu ớt của ngày cuối năm. Huế mình
như thế đó, cuối năm bao giờ mặt trời cũng muốn lười biếng, cũng nhõng
nhẽo đến rơi nước mắt. Ki đang đứng đằng sau lưng tôi, đang đứng trong hồn
tôi để giúp tôi trào thêm những giọt lệ.
Ba bỏ đi rồi, mất biệt rồi, đứt luôn cả sợi dây tơ đang mỏng dần giữa tôi
và Ki. Vậy là hết.
Phải, đã hết thực rồi, Ki ạ. Bây giờ tôi đứng trước Huế, nhìn Huế với một
con mắt khác, một tâm hồn khác. Mấy ngày liền tôi đã thấy sợi dây tơ mềm
cột chặt tôi với Huế đã đứt lìa hẳn. Nhưng lạ lùng thay, đôi lúc tôi vẫn còn
thấy Ki che mặt, giận dỗi, khóc lóc, rên rỉ vật vã ở trong tôi. Có phải tiếng
khóc cuối cùng của tôi thương tiếc người cha, hay tiếng khóc của Ki đau đớn
vĩnh biệt, một phần hồn tách lìa một thân xác để đi biền biệt mãi.
Tôi giơ tay chào Ki và từ giã luôn nhé.
Không Ki ơi, tôi đã lầm ghê lắm. Lầm lớn lắm. Đúng tôi vẫn còn nhìn
thấy Ki, đúng Ki là một phần hồn thuỷ chung duy nhất còn ở lại trong tôi, với
tôi trong những giờ phút mà chính tôi cũng không còn sự sáng suốt để dẫn
dắt mình nữa. Tôi đã chạy loạn cùng khắp, và chính trong những giờ phút tôi
mê muội nhất thì tôi lại nghe tiếng kêu của Ki. Con đường này, chiếc cầu
này, khu vực này. Tôi chạy tới, chạy lui và tiếng kêu dẫn đường cho tôi tìm
thấy lối sống.
Đúng là Ki thật rồi. Nhìn thấy Ki tất tả trong đám trẻ con chạy loạn, nhìn
thấy Ki bên những cánh tay khúc chân thịt non còn bê bết máu. Nhìn thấy
một phần thân thể Ki nơi chiếc miệng rỏ đầy giãi của con chó đang quắp đuôi
chạy trong đám bụi mù, trong ánh lửa đạn. Tôi nhìn ra Ki tức là đã nhìn ra
Huế. Trong bao năm tôi tưởng như tôi đã chôn vùi hình ảnh Ki cùng xứ Huế
với những ngày thơ, với lăng tẩm đền đài đằng sau đời sống mới ở một xứ
khác. Tôi lầm phải không Ki. Trong một tháng chạy loạn, có lần tôi đã tưởng
Huế của chúng ta đã hết, đã tan nát, đã bị vùi chôn. Đã hết khi tôi bưng kín
mắt, nằm ép trong góc tối của khu nhà trong cung An Định. Khi tôi chạy
băng qua cầu An Cựu mà không nhìn thấy cây bông búp. Nhưng không, tôi
vẫn thấy trên những đống gạch to lớn chưa từng thấy của thành phố, hình ảnh
của Ki ngày nào bé bỏng non thơ đi lang thang trên đó. Hình ảnh của Ki trôi
trên những đợt mây xám, len lén trong ánh sáng hẩm hiu của bầu trời lất phất
mưa để đi thăm những đổ vỡ, những mảnh tường xâm mình với bao thứ bom
đạn.
Tôi còn nhìn thấy Ki nhiều lần nữa. Chẳng hạn như một hôm sau mười
mấy ngày nằm trong hầm tối, vừa chui lên miệng hầm, không khí mát lạnh
làm tôi tỉnh người. Và những bóng lá xanh mướt ve vãn trước mắt tôi, một
bụi cây, một nhánh cỏ mà làm cho người ta yêu đời biết bao nhiêu. Trí tưởng
tượng của tôi như đang ngợp hết cả vùng trời, tôi nhìn thấy Ki tung tăng
trong ánh nắng vàng của dĩ vãng, ánh nắng đó còn bám lại trên mái ngói của
trường Đồng Khánh, của những bức tường đã và đang sụp đổ. Tôi thấy Ki
đứng tần ngần bên cạnh ông Tám thợ may, ông già râu dài đến rốn ngày xưa
cho Ki cục đường, bây giờ nằm chết cong queo bên đường mười mấy ngày
chưa được chôn cất. Ki cũng còn đứng bên những ngôi mộ của một số bạn bè
cũ đã lớn lên, Ki đang đứng cùng tuổi thơ của họ xung quanh ngôi mộ đắp
vội vàng, cùng với bầu trời mưa phùn nhỏ những giọt lệ không đủ làm ướt áo.
Mi Ki thân mến,
Ki thấy không, chúng ta thật đã có quá nhiều chuyện để nói với nhau về
Huế. Nhưng chưa hết đâu Ki, tôi còn một chuyện nữa phải nhắc lại với Ki.
Chuyện con heo khổng lồ trong tuổi thơ của mình ấy mà. Ki còn nhớ chứ?
Thật chuyện của mình răng mà lộn xộn quá đi, nhưng tôi chắc là Ki sẽ phải
reo vui, khi tôi còn nhớ và nhắc tới con heo khổng lồ ấy. Đã có một dạo,
trong những lần tha thẩn với Huế, chúng ta đã không thể nào không dừng lại
trước một căn nhà lá nghèo nàn trên Lích Đợi, giữa con đường đi nghẹo lên
Tây Thiên. Ki đã nhớ ra rồi phải không? Con heo của ông già lười biếng ấy
mà. Chúng ta đã cùng nhau đặt tên cho ông cụ là "ông già lười biếng", vì chả
bao giờ thấy cụ mần ăn chi hết… Buồn cười quá Ki nhỉ. Lúc nào mình ghé lại
cũng thấy ông cụ ngồi bên cái ấm nước chè lá với mấy cái ly nhựa. Hình như
suốt ngày ông cụ chỉ cố gắng nấu được nồi nước chè lá thật ngon để mời
những người khách đến thăm con heo kỳ dị ấy. Tội nghiệp Ki biết bao, dạo
ấy, Ki nhỏ chút, khi đứng trước cái chuồng heo to lớn chiếm hết nửa căn nhà.
Còn heo thì thôi, nó to như một con bò, nằm chình ình hết hai phần ba cái
chuồng, lông to cứng tủa ra như rễ tre, những túi thịt vĩ đại xệ xuống, khiến
chúng ta đã cố tìm mà không thấy hai mắt nó ở đâu. Con heo cũng đã quá già,
không còn đủ sức đứng dậy, suốt ngày cứ nằm rệp trên đống rác rưởi dơ dáy
của chính nó.
Người ta tới thăm con heo khổng lồ này cũng đông lắm, và cứ mỗi lần có
khách ông già lười biếng này lại khoe khoang:
"Con heo ni tui đợi tới khi mô hoà bình mới làm thịt ăn mừng!"
Ông già nói xong lại nhướng đôi mắt hấp hem lên nhìn trời. Con heo
khổng lồ của ông già vì rứa, còn được gọi bằng "con heo hoà bình" nữa. Hồi
đó, cái tên này đã làm Ki ngạc nhiên. Tại sao lại phải đợi hoà bình. Mà hoà
bình là cái gì thế nhỉ? Huế hiền lành của chúng ta có ai đánh đấm gì đâu mà
phải đợi hoà bình?
Ki ơi, đến bây giờ thì chắc Ki đã hiểu tại sao ông già lười biếng của chúng
ta lại chờ đợi rồi chứ? Nhưng dù Ki có hiểu hay không, chúng ta đã chẳng thể
biết nổi trong những ngày khốn khổ hồi Tết Mậu thân vừa rồi, ông già và con
heo hoà bình có còn không? Mà nếu còn, cũng liệu có đủ sức để mà chờ đợi
thêm nữa không?
Những câu hỏi răng nghe buồn hả Ki. Nhưng Ki cũng đừng trách tôi nhé.
Khi tôi ngồi viết những dòng này cho Ki thì Huế của chúng ta còn đang được
nói đến nhiều lắm, với những hầm hố chôn những, những xác thịt rữa nát
được tìm thấy bỏ vô hàng trăm bao ny lông xếp cao như núi. Tôi ở nơi xa,
nghe tin nào Bãi Dâu, nào các lăng tẩm, nào Phú Thứ, những hầm xác tập thể
đã được quật lên, rồi những tiếng khóc khổ đau ngày nào lại được dịp oà vỡ
lại. Tôi đã không có mặt với Huế trong những ngày tháng này, để cùng tìm
kiếm với thành phố những người thân thích đã bị bắn, bị chôn. Ở xa xôi, tôi
chỉ còn cách tìm lại với Ki, với tuổi thơ ấu của mình, vì Ki, hình ảnh đã được
Huế nuôi dưỡng từ thuở bé thơ, hẳn Ki còn ở mãi với Huế. Hãy tiếp tục khóc
với Huế, sống với Huế thay tôi, Ki nhé.
Tội nghiệp Ki quá. Nhưng chưa hết đâu, Ki còn phải thay tôi lắng nghe
tiếng cỏ đang cựa mình mọc lên trong đất đai câm nín của Huế, thay tôi góp
hết sức sống còn lại của chúng ta vào Huế cho một mùa phục sinh mới Huế
của chúng ta, của những người đã chết vùi chết dập và những người còn sống
sót, thế nào rồi cũng phải phục sinh, phải thức dậy.
Làm thế nào được, phải không Ki? Sức sống của nhân loại vẫn mãnh liệt
lắm. Như tôi đã mạnh mẽ vươn lên khỏi tuổi thơ ấu, bỏ Ki lại chơ vơ với
những kỷ niệm của thành phố. Sức sống của Huế cũng vậy, Ki còn nhớ
không? Ngày tôi sắp xa rời Ki, chúng ta đã cùng chụp chung một tấm hình
với các bạn. Bức hình ba đứa với Kim Hường, Tâm Tuý, khuôn mặt Ki ở
giữa. Người ta nói chụp hình ba đứa xui lắm. Thật rứa Ki ạ. Đã quá lâu rồi,
ba đứa trong tấm hình ngày nào không còn dịp gặp nhau lại, nhưng Ki biết
sao không, bữa kia, tôi đã vừa nghe người ta báo tin Tâm Tuý không còn nữa.
Theo lời kể lại, hồi Tết Mậu Thân vừa rồi, Tuý sửa soạn về bên chồng.
Trước tết, Tuý cắt tóc ngắn, đánh móng tay, rạo rực với bao nhiêu dự định.
Sáng mồng Một Tết, Tuý còn mặc áo đẹp, nhởn nhơ mừng năm mới. Nhưng
chỉ hôm sau, sáng mùng Hai Tết, Tuý đã bị bắt, rồi bị chôn trong khu vườn
ngay khi hoa mai còn đang nở.
Sau này, khi những người thân sống sót trở về đào xác Tuý lên, Ki tưởng
tượng được không, dù bị vùi xuống không hòm không chiếu, thể xác Tuý
không những vẫn nguyên vẹn, mà mái tóc Tuý, móng chân móng tay của Tuý
còn mọc dài hơn ra. Ki ơi, có thể thật rứa không Ki. Mà thật rứa, thì mần răng
giải thích, ngoài điều tôi đã nói với Ki: sức sống của con người vốn mãnh liệt
lắm.
Phải chăng, khi bị vùi xuống đất giữa lúc còn rạo rực sống, dù tim đã
ngừng đập, ngực đã ngừng thở, giữa lòng đất đen lạnh, cô bạn nhỏ của chúng
ta, Tâm Tuý, vẫn còn cố gắng trải thêm chút sức sống mà cái chết hối hả
không kịp dập tắt, để thể xác còn tiếp tục nở thêm.
Mi Ki thân mến,
Ki thấy đó, như Tâm Tuý, như bao nhiêu người khác, Huế của chúng ta,
dù bị vùi dập và tàn phá, vẫn nhất định hồi sinh, nhất định thức dậy, như cỏ
nhất định phải mọc trên mặt đất.
Hãy chịu đựng nhé, Huế. Nhưng đừng quên chờ đợi, hy vọng. Giữa những
xương trắng vừa được bới đào lên, giữa những đám tang tập thể, giữa đêm tối
chưa ngớt kinh hoàng vì những trận đánh lớn quanh quẩn đe doạ, Ki nghe
thấy không, lời hứa phục sinh của Huế vẫn nhất định chưa tắt, Ki tin tôi đi,
trong lòng tôi, ngay lúc còn đi giữa máu me đổ nát của Huế vẫn còn giữ được
nguyên biết bao kỷ niệm mà ngày nào, đôi chân ngắn ngủi của chúng ta đã
từng bước tới.
Dù sao Ki ơi, những buổi chiều gió nổi trên mặt sông Hương gợn sóng
bạc, những buổi sáng mùa hạ rực rỡ trong Thành Nội, những ngày mưa mù
mịt hàng cây sầu đông sau trường Đồng Khánh, hay những cơn giông thịnh
nộ, cũng vẫn còn trở lại.
Tôi xin gửi về Ki, về Huế, tập truyện nhỏ này, như những tình ca được
viết riêng cho Huế và quê hương đổ nát.
Mong rằng những tình ca vụn vặt, đầy nước mắt ấy, sẽ góp thêm phần nào
vào việc lay gọi Huế thức giấc, để những tình ca khác sẽ tiếp tục, thơ mộng
hơn, tươi sáng hơn.
Mi Ki ơi,
Ki đã làm tôi cảm động quá. Sống mãi giùm tôi với Huế nhé, Ki nhé.
Sài Gòn, 4.1969
2
Giọt nắng về trời
Chuyến máy bay đưa tôi trở về Huế đáp xuống phi trường Phú Bài đúng
12 giờ 30. Giờ Ngọ. Giờ này đúng là tuổi của đứa con trai tôi, và cũng là tuổi
của người cha thân yêu, lúc này, đang nằm hấp hối trên giường bịnh.
Khi bước xuống sân bay, đứng chơ vơ đón những đám cát bụi do những
chiếc quạt máy bay khác quạt tới, tôi cúi xuống nhìn chiếc bóng của mình
ngắn ngủi nhú khỏi hai chân bằng một gang ngắn, lúc đó, hình như có một
hình ảnh nào đó êm đềm vừa trôi qua trong tôi, lúc tôi kịp nhắm mắt để tránh
những hạt cát đang quật vào mắt mũi. Một lời van xin đã bật ra trong đầu óc.
Tôi mở choàng mắt, những vạt nắng nấp sau những đám mây lam, thật
thấp, chiếu xuống những tia vàng úa, buồn não. Cầu xin một sự yên lành. Ba
ơi, chắc gì còn kịp. Chân tôi bước như muốn ríu lại, cuối cùng, tôi cũng qua
hết chiếc sân rộng, vào dãy nhà đợi.
Buổi tối hôm trước, tôi đang còn ở thành phố Sài Gòn. Lâu lắm rồi tôi
chưa về lại Huế. Nhiều dịp Tết trôi qua, lần nào cũng tự hứa sẽ trở về, nhưng
những dịp tự hứa đó cũng bị những lười biếng, buông thả xoá mất hết. Lúc
này thì không thể không trở về được. Tấm điện tín đến vào lúc 11 giờ đêm.
Lúc đó tôi đang đưa ông Táo.
Tối 23 tháng chạp, không hiểu sao chỉ có lễ đưa ông Táo, tôi đã diện như
đi một dạ hội. Áo dài đỏ chót, tóc tai chải đàng hoàng. Khi tôi mặc chiếc áo
đỏ, người giúp việc đã buông một câu: Cúng ông Táo mà chị mặc cái áo đỏ
chói. Tôi cười: Biết đâu sẽ hết dịp mặc. Lời nói của tôi linh ứng ngay lúc đó.
Chỉ một phút sau, tôi nhận được điện tín từ Huế đánh vào. Về ngay, ba đang
hấp hối. Đang hấp hối? Cái gì mà kỳ cục vậy. Lá thư ba tôi viết từ tuần trước
còn rành rành nơi ngăn tủ. Con nhớ về ăn Tết, chúng con phải về, ba đã rời
bệnh viện. Chúng tôi đã mua vé cho cả gia đình, sẽ về Huế vào ngày mồng
Hai. Lâu lắm tôi mới trở lại Huế, và lần này, cả đoàn vợ chồng con cái lần
đầu tiên trở về trình diện cái quê hương mà tôi vừa thương yêu vừa thù ghét.
Không thể chờ đợi thêm được nữa. Em phải về trước, bằng mọi cách. Chồng
tôi nói thế. Và sáng hôm sau, tôi đã theo một chuyến máy bay quân sự để trở
về đây. Chiếc áo đỏ còn lung linh trong trí nhớ tôi như một nỗi kinh hoàng.
Chiếc áo đỏ này cũng đã được xếp ngăn nắp cất kín.
Tôi theo một xe hơi đi đón người nhà lên thành phố. Không đủ sức chờ
đợi chuyến xe đưa hành khách được nữa. Tôi muốn tức khắc có mặt ở nhà lúc
này. May ra còn kịp, nhất định phải kịp. Ba không thể đi một chuyến đi dài
mà không nhìn kịp mặt con. Phải thế.
Mấy năm rồi, tôi không trở về, những lá thư ba viết thật dài và những lá
thư trả lời ngắn ngủi không đủ để nói gì hết. Lời nói thú tội của tôi đang còn
chờ một dịp. Lần này, cầu mong cho con về kịp, và con sẽ nói, nói hết với ba.
Không, tôi cũng chả cần phải nói gì, ba tôi cũng đã hiểu hết. Những ngày bỏ
Huế dài bằng những lỗi lầm của tôi mà gia đình gánh chịu. Chiếc xe chạy qua
những thửa ruộng nhỏ, phía xa là những rặng núi dài, con đường tráng nhựa
ngày xưa nay đã cũ và đầy những ổ gà. Cảnh vật không có gì thay đổi hết.
Tôi tựa vào thành xe nghe tiếng tim mình đập rộn rã, tiếng rộn rã của một
nỗi mừng cùng một nỗi khắc khoải chờ đợi. Bầu trời xám xịt, những ánh
nắng vàng quái đồng tình với tôi về một nỗi quạnh hiu và những đám mây
buồn như muốn chảy nước. Tôi lờ mờ hình dung hình ảnh ba tôi với nhiều
khuôn mặt, nhưng hình ảnh nào cũng vội biến đi rất nhanh để nhường lại cho
một đôi mắt đã hết tinh thần đang cố bám những làn hơi chờ đợi.
Xe qua một vài xóm nhỏ tới một thửa ruộng, cảnh vật không có gì đổi
thay nhưng tôi không còn nhớ gì hết. Khi xe qua một con cầu, tôi mới thảng
thốt rối rít xin dừng lại. An Cựu ở phía đằng sau lưng mất rồi. Tôi gọi chiếc
xích lô và đi ngược trở lại. Tôi ôm mớ hành lý lên lòng, hành lý chả có gì cho
một chuyến đi xa, tất cả được gói gọn bỏ trong cái túi nhỏ. Tối hôm trước,
khi hay tin, tôi đã cầm tấm điện tín, ngồi trong màn mà khóc. Tất cả cái gói
nhỏ này do chồng tôi xếp cho. Em cứ về, mồng Hai anh sẽ ra và đến sau. Anh
sẽ cố gắng thu xếp công việc, đổi vé sớm hơn.
Cho tới lúc này, tôi vẫn không tin tưởng gì về sự có thể đổi vé được. Xe đi
qua một đồn lính đến một ngã ba, rồi chạy thẳng xuống theo con lộ số 1. Tôi
đưa tay ra dấu, xe chạy vào một con ngõ được chắn lại bằng một cánh cửa sắt
khép hờ. Tôi nhảy lên từ trên xích lô xuống chạy một mạch từ ngõ qua
khoảng sân và đứng sững lại giữa nhà. Nhiều tiếng gọi tên tôi cùng bật ra một
lúc. Đứa em gái của tôi chạy ra sân, người phu xe đang tần ngần đợi ở đó.
Cả nhà đang ngồi quanh mâm cơm, nhưng chả ai ăn được miếng nào, tôi
ngửi, thấy mùi canh cải cúc quen thuộc, vì một làn hơi mỏng bay lên từ tô
canh, bên những chén cơm để nguội ngắt. Mẹ tôi đứng dậy trước tiên, hai tay
bà đưa ra đằng trước. Nỗi mừng vừa chiếu một tia sáng nhỏ ở đôi mắt đã che
khuất bởi làn lệ mỏng: Con ơi, ba con đợi con về kia, ba con nằm ở trong
phòng kia. Nhiều tiếng khóc nổi lên. Cái túi nhỏ nơi tay tôi bỗng rơi xuống
đất. Tôi khoát tấm màn nhỏ thay cánh cửa ngăn phòng, bước vào. Chân tôi cơ
hồ muốn lướt trên mặt đất.
Tất cả những hình ảnh tôi tưởng tượng về ba tôi đã hoàn toàn sai lệch. Ba
tôi bây giờ chỉ còn như bộ xương người. Khuôn mặt choắt lại, hai gò má nhô
cao, hai mắt nửa khép nửa mở. Cả khuôn mặt đó cùng mớ tóc chưa kịp bạc
hết, chải lật đằng sau được đặt trên chiếc gối cao. Nếu không còn nghe được
tiếng thở nhẹ, đôi khi khò khè, tôi không thể tin ba tôi còn đang ở giữa lưng
chừng sự sống và sự chết. Sự có mặt của tôi càng làm cho gia đình tôi mủi
lòng, xung quanh tôi đầy cả tiếng khóc.
Tôi đứng sững một giây và rồi như một sự vỡ oà không kịp gượng, chân
tôi khuỵu xuống, mặt tôi đã úp gọn vào bàn tay cứng ngắt của ba tôi. Ba ơi,
con đã trở về nhưng cả ba cả con, không ai còn kịp nghe nhau nói nữa. Tôi
tưởng khi gục xuống bàn tay của ba tôi, tôi sẽ khóc ghê gớm lắm, và ít nhất
tiếng khóc đó cũng giúp tôi vơi bớt được nỗi buồn khổ đau đớn trong lòng.
Như đêm qua tôi cũng đã khóc, như khi ngồi trên máy bay, tôi cũng đã khóc,
và sau đó tôi tỉnh táo lại.
Lần này cớ chi sự đau đớn của tôi không trào ra bằng mắt. Không, ba tôi
còn sống, ba tôi còn nằm kia, da thịt còn nóng. Ai kêu giùm tôi một bác sĩ, ai
gọi giùm tôi một chiếc xe đi. Làm cách nào để cứu ba tôi sống lại chứ. Tại
sao mẹ tôi chú tôi chỉ biết cuống quít chờ đợi ba tôi chết và khóc lóc thế kia.
Tôi đứng bật dậy. Má ơi, ba chưa chết, kêu giùm con bác sĩ đi chú ơi. Tiếng
khóc của người đàn ông không làm ai mủi lòng như vậy mà chú tôi đang
khóc như một đứa bé.
Tôi giậm chân, tôi quay quắt. Tôi đứng bật dậy. Làm ơn gọi bác sĩ giùm
tôi, ba tôi đang chống chọi kìa. Nhưng không ai trả lời tôi hết, những tiếng
khóc thút thít làm đầu óc tôi như muốn nổi điên lên. Cái chết nào có dễ dàng
đến như thế. Con ơi, con đừng có la lối nữa, không kịp nữa đâu, bác sĩ chạy
rồi. Bác sĩ chạy rồi, bao nhiêu sự hung hăng của tôi nhờ lời nói của chú tôi
đập nát hết. Lúc này tôi nhìn rõ ba tôi hơn. Lưỡi ông đã trụt, hai mắt đã lạc
hết tinh thần. Ba tôi đang mặc một cái áo ka ki nhà binh, nơi tay còn đeo
đồng hồ và phía trên đầu có đặt cái radio nhỏ.
Chú tôi nói: Chiều qua, ba còn đưa tay vặn máy ra, lại đeo được đồng hồ.
Đến nửa đêm hai tay mới tê liệt hẳn. Ba có nói gì nữa không? Má tôi vừa
khóc vừa trả lời: Ba gọi tên con, tên anh con, rồi im luôn cho tới giờ. Má tôi
nói xong cầm chén sâm, rỏ vào miệng ba tôi mấy giọt, ba tôi nấc lên, và hai
hàm răng đập lại, chứng cớ còn nuốt được. Nhưng tới giọt sâm thứ hai thì
miệng ba tôi không còn động đậy gì nữa. Lúc này tôi mới nhớ tới anh tôi, má
tôi giải thích cho biết là anh ấy đã đi trình diện nhập ngũ, đã đánh tới mười
mấy cái điện tín nhưng chưa thấy về.
"Ông ơi, con nó về đây, con nó về mà ông bỏ nó ông đi sao đành ông ơi".
Tiếng kêu của má tôi như một tiếng xé lòng. Tôi gục mặt vào ngực ba tôi,
bao nhiêu sự cố gắng của tôi đã cùng bật ra một lúc bằng tiếng kêu nhỏ: "Ba
ơi". Rồi tôi không khóc, nhưng nước mắt tôi đã chảy giàn giụa. Và khi tôi
nhìn vào khuôn mặt ba tôi, thì lạ lùng thay, nơi hai khóe mắt đã dừng tròng
của ba tôi, lăn ra hai dòngg lệ nhỏ. Ba đã nhận ra con, ba đã biết con trở về.
Ba ơi. Nhưng làm thế nào cho ba đừng chết.
Không còn hy vọng gì nữa hết. Môi ba tôi đã khô dần và nơi trán đã rịn ra
những giọt mồ hôi cùng những giọt lệ tiếp tục chảy dài hai khóe mắt.
Tất cả các cánh cửa sổ được mở ra một lúc. Ánh sáng lùa vào lê lết trên
khuôn mặt tái ngắt của ba tôi. Nhưng ánh sáng đó, hắt hiu dần vì những đám
mây mỗi lúc một đặc. Em gái tôi nói đóng cửa lại, sợ ba tôi nhiễm gió lạnh,
nhưng chú tôi nghẹn ngào: Để vậy cho sáng sủa, ba thích sáng sủa để ba nhìn
vườn cây của ba trồng.
Nhiều người tới thăm đang đứng ở nhà ngoài, má tôi dẫn vào, họ đứng yên
lặng một lát rồi đi ra, ai ai cũng có bộ mặt phiền não. Ngoài vườn, gió chiều
đang bắt đầu xao động trên các lá cây, ánh sáng thật mỏng manh yếu ớt, lung
linh từng giọt trên lá. Trên tấm chăn trắng đắp trên người ba tôi, phía chếch
nơi bụng, một vệt nắng dài đang u buồn đậu trên đó. Tôi ngồi ghé vào một
bên giường, lần này, tôi không còn đủ lý do gì để quay quắt được nữa.
Ba tôi nằm đó, đầy sự yên tĩnh, những giọt nước mắt cùng mồ hôi trên
trán đã được lau khô và hơi thở ba tôi điều hoà như đang chìm vào giấc ngủ
không mộng mị. Vệt nắng cứ chạy lui dần xuống phía chân ba tôi và hao mòn
mãi cho tới lúc chỉ còn một giọt nhỏ.
Tôi đưa tay sờ ngực ba tôi...
Tác giả: Nhã Ca
Tiểu thuyết
Ebook: Cuibap
Text: talawas.org
1.
Thư Gửi Tuổi Thơ Ấu Của Huế
Mi Ki thân mến,
Tôi phải nói với Ki về thành phố đó. Chúng ta đã sinh ra, đã sống ở đó, ít
nhất là một phần của tuổi thơ ấu. Tuổi thơ ấu của Ki đã cho tôi thật đầy đủ.
Những ngày ở bãi biển Thuận An, đi lang thang ngoài biển, bắt cào cào, đào
trộm khoai, chơi cút bắt, hay thơ thẩn một mình ngoài đồng rộng chạy đuổi
theo những bông cỏ lăn theo gió. Tắm ở phá Tam Giang, giữa trưa nắng, cát
nóng bỏng như lửa. Ki đã chạy nhảy, chân giẫm từ đám cỏ khô này qua đám
cỏ khô khác để tới rừng dương, nhìn một cái hồ nhỏ đầy cá mặt trăng. Cá mặt
trăng, những mặt trăng nhỏ, trắng muốt của tuổi thơ chúng ta tung tăng trên
mặt hồ, bên những cành dương rủ bóng, kênh kiệu một cách đáng yêu với bờ
đê, với bãi biển kêu gọi, rủ rê suốt ngày tháng.
Rời bỏ Thuận An, Ki bé nhỏ, quê mùa của tôi bước chân lên thành phố.
Bỡ ngỡ và rụt rè, bị bắt nạt, nước mắt, đó là đặc điểm của Ki thời đó. Bị bắt
nạt là đáng lắm, bởi Ki chỉ biết có bãi cát trắng phau, với những đợt sóng
liếm vào bờ suốt ngày không biết chán. Ki chỉ biết có những con đường làng
cát bẩn rụng đầy hột keo khô, lẫn với vỏ nghêu, vò sò vỡ. Bị ném vào một
thành phố đầy trẻ con tinh ranh, Ki làm sao chống đỡ nổi. Tội nghiệp Ki của
tôi hồi tám chín tuổi với một phố Huế xa lạ, giục giã sự tò mò. Ki vẫn giữ
khuôn mặt đen dịu, đôi mắt vàng chói nắng biển, mái tóc cắt ngắn kiểu con
trai, mặc quần sọt với áo sơ mi bởi vì ba chúng ta muốn có một đứa con gái
ngộ nghĩnh hơn là xinh đẹp. Ki bắt đầu đi học, Ki có bạn mới, Ki quên bãi
biển Thuận An, quên làng quê buồn hiu nhưng thơ mộng đến nỗi có những
đêm mơ thấy bầy cá mặt trăng bơi lội tung tăng trên mặt hồ đớp ánh sáng
xanh mát, hoặc những cành dương dài như những cánh tay khẳng khiu vẫy
vẫy, Ki đã khóc trong giấc ngủ. Hoặc đôi khi đang ngồi trong lớp học, Ki
bỗng nghe thấy một âm thanh gì rì rào quen thuộc, Ki nôn nao cả người và
chợt nhớ ra âm thanh đó giống tiếng sóng biển mà Ki đã nghe hoài huỷ hồi ở
quê mẹ. Chúng ta thực tức cười phải không Ki, hồi đó chúng ta cứ tưởng Huế
với Thuận An là hai miền xa cách như bây giờ Sài Gòn với Hà Nội vậy. Vừa
biết Huế, gia đình ta ở An Cựu, cạnh nghẹo đường xay. Chúng ta có thể chạy
lông bông, nhưng không còn được thong thả như hồi ở nhà quê nữa vì chúng
ta phải canh chừng những chiếc xe nhà binh với những ông Tây to lớn, mặt
luôn luôn đỏ kè như say rượu. Chúng ta thấy phía này có ruộng, phía kia có
bờ sông, có cầu đúc nối sang bên chợ. Ki có còn nhớ cây bông búp cao mọc ở
cạnh chân cầu đó chớ. Cây búp mà chúng ta thường ao ước nhặt những búp
khô rụng, thổi phồng lên như đã từng thổi chiếc bong bóng lợn của dượng
Tin cho hồi còn ở Thuận An. Thêm một hai tuổi gì đó, chúng ta rời An Cựu,
được gửi học nơi nhà một ông giáo nhà ở tít dưới Mù U, Ki đã trốn học, đã
khóc và bị ăn roi đến quắn đít vì bướng. Ki đi học đàng hoàng. Mùa nắng Ki
mặc áo hoa, đi guốc. Mùa mưa, Ki còn nhớ không, chúng ta mang cái tơi
bằng lá, tròng từ đầu xuống cổ, có sợi dây thừng nhỏ rút trước cổ, buộc chặt
cho gió khỏi bay. Ngôi trường tiểu học ở thật xa tít giữa bãi hoang có nhiều
đất sét. Xung quanh lại có nhiều mồ mả nữa. Những đứa trẻ tinh quái thường
doạ có nhiều mả Tàu Ô lắm, rồi chúng ta được nghe nhiều chuyện kinh hoàng
về giặc Tàu Ô. Nhà chúng ta ở nơi một con đường rất dốc. Dốc cao đến nỗi
người lớn nói đứng trên đầu dốc có thể nhìn thấy cột cờ Phú Văn Lâu. Nhưng
Ki nghểnh cổ, nhón chân, cũng chỉ nhìn thấy những đọt phượng mùa hè đầy
bóng đỏ rực, mùa đông lủng lẳng những quả dài sắc cong như lưỡi mác. Phía
trên đầu dốc kia là Đàn Nam Giao, nghe nói đường đi xa lắm, chân của Ki thì
quá ngắn. Cho tới khi tôi đi được chiếc xe đạp, ngang qua con đường đất
vòng quanh Đàn Nam Giao, tôi cười mãi về sự tưởng tượng của Ki hồi còn
nhỏ, và nhớ Ki như một phần hồn, phần thơ ngây của mình đã mất vĩnh viễn.
Ki còn nhớ không, trước mặt nhà chúng ta là ngôi nhà cô bạn nhỏ tên
Chín. Trước sân nhà Chín có vài cây nhãn, dưới gốc cây bọn con nít thường
chơi trò buôn bán với vỏ hến, lá cây hoặc những sa thạch vò nát đẹp phơi
nắng. Bọn nhỏ còn đánh thẻ, đánh thẻ nẻ đau, đôi khi bầm tím cả đôi chân.
Tụi nhỏ còn đánh ô làng bằng hạt cây thầu đâu, cây thầu đâu mà khi lớn lên
tôi biết nó còn được gọi thêm hai ba tên là sầu đâu hay sầu đông cũng được.
Trong căn nhà của Chín, Ki thường hay thắc mắc về một ông cụ già mà
người lớn gọi là ông Huyện. Ông thường đội khăn đóng, mặc áo dài đen, mỗi
lần sang Chín chơi trông thấy ông Ki thường núp sau bể cạn. Người ta nói
thời trước ông Huyện oai lắm, ông làm quan, dân đi ngang qua nhà phải cúi
đầu không thì bị lôi vô đánh đòn. Ki không những cúi đầu mà còn trốn biệt
sau chiếc bể cạn, Ki sợ đánh đòn lắm. Nhưng ông Huyện hiền lành lắm, ông
lôi Ki ra chỗ núp cười bảo vô nhà chơi với Chín. Ông nhìn tụi nhỏ nghịch đất
cát, ông ngồi ngắm mấy chậu cây. Ki vô nhà thấy có treo tấm ảnh của ông
lớn lắm, ông ngồi trên chiếc ghế chạm trổ có lính hầu đứng quạt nữa. Một
tấm gỗ láng bóng nổi lên ba chữ nho to tướng như bằng vàng, giữa nhà có sập
gụ. Ki lấy làm ngạc nhiên vì nhiều nhà có những thứ lạ mắt như thế. Huế
cũng quyến rũ Ki lắm chứ, những ngày đi học, ghé vô sân chùa lượm me
rụng, đào rụng, hay tha thẩn dọc đường hái trái ngũ sắc chín đen, trái mắm
ruóc chín vàng, ăn ngọt đỡ khát nước. Dần dà Ki quen với Huế, thân với Huế
hẳn hoi, Ki thường ngẩn ngơ ngắm những chị lớn tóc xoã dài, áo trắng đội
nón lá, đi thướt tha yểu điệu. Trông họ đẹp và rườm rà quá. Rồi chính Ki, Ki
cũng bỗng theo họ từ lúc nào. Nhưng khổ thay càng ngày Ki càng thấy trong
cái thân thể Ki đang trú ngụ bỗng xa rời Ki mãi. Cho tới lúc cái thân thể đó rũ
bỏ chiếc áo ngắn để thay bằng chiếc áo dài lụa đầu tiên, mái tóc ngắn được
nuôi dài và biết che bằng nón lá. Nó đã hất hủi ánh nắng mặt trời vàng tươi
Ki mang từ biển, tay chân nó đã chê bỏ những cơn gió mùa hè ngây ngất, mắt
nó, mũi nó đã rời xa mùi hoa khế, mùi me chua, lạnh lùng với bông hoa ngũ
sắc, thì Ki hoàn toàn bị bỏ rơi rồi. Tôi mất luôn Ki, mất mà không biết Ki đã
bỏ tôi đi từ lúc nào, chỉ biết có một lúc giật mình thấy có đứa bé trong hồn
mình bỏ đi biệt tích, bỏ đi một cách lặng lẽ, không để lại một dấu vết gì nữa.
Ki thân mến,
Gợi lại để Ki biết là tôi vẫn còn nhớ tới Ki, không phải là nhớ nữa, mà là
một kỷ niệm, một khát khao để tôi tìm về trong bất cứ năm tháng nào, nếu có
dịp. Nhưng bây giờ nhìn về, có nhớ nhung thắm thiết bao nhiêu thì sự thắm
thiết đó cũng chỉ nhắc nhở tôi khoảng cách lớn dần ra mãi. Tôi càng nhắc
càng chứng tỏ tôi càng bỏ xa Ki biệt mù. Nhưng hôm nay tôi phải nhắc lại
với Ki để nói về một thành phố. Vì chỉ có Ki mới đủ thẩm quyền để bắt tôi
phải than thở, phải đau đớn, phải khóc lóc. Và tôi muốn cho Ki biết tôi đã đi
đứng, ăn nói, thương yêu thù ghét thành phố của tuổi thơ đó như thế nào.
không nói thì Ki cũng có thể biết, bởi vì trong những năm sống ở Huế, làm
một cô gái Huế xoã tóc, đội nón, đi guốc trắng, thỉnh thoảng trên đường về
một mình, bên cạnh bụi hoa ngũ sắc tôi còn trông thấy hình ảnh Ki, tóc cắt
ngắn, quần sọt, áo sơ mi, đôi mắt mang màu nắng của biển vừa đứng ở đó,
đứng ở đó rồi biến đi rất nhanh làm tôi bàng hoàng như mình đánh mất một
thứ, một thứ thiêng liêng ghê lắm thương yêu ghê lắm, tiếc ghê lắm mà
không thể nào trở về với nó được. Không thể trở về vì hai người đang cố tình
trốn chạy nhau. Còn nhiều dịp nữa, trong những lần nhìn những cô bé con
chơi buôn bán, đánh thẻ, đánh ô làng, nghịch đất, tôi thấy trong tâm hồn tôi ló
ra một nhánh hồn bé nhỏ muốn với tới, một cô bé nào đó ngoảnh mặt nhìn tôi
với nụ cười nửa mỉa mai nửa khinh bỉ. Ki đó phải không?
Nhưng tôi cũng phải quên Ki đi ngay. Quên Ki để đạp xe đạp qua cầu
Tràng Tiền với bè bạn. Quên Ki để làm những cuộc đi chơi xa hơn, thích
hơn. Tôi biết nhiều về Huế quá. Tôi đi hết những lăng tẩm. Tôi biết chuyện vì
sao ông Huyện có bức ảnh chụp với lính quạt hầu lại có nụ cười hiền lành dễ
thương đến thế. Tôi còn biết cả lịch sử huy hoàng của Huế khi đặt chân đến
Đại Nội nữa. Chiếc ngai bằng vàng, những chậu cây bằng vàng trái ngọc,
những Đàn Nam Giao tế trời tế đất. Tôi nghe tiếng chuông Linh Mụ với một
tâm hồn dào dạt mơ mộng chớ không như Ki hồi trước, chỉ ru giấc ngủ hoặc
để đánh thức thời giờ đòi quà buổi sớm mai. Tôi còn biết thưởng thức bao vị
chua cay của Huế, đi ăn bánh bèo, bún bò, bánh khoái. Tôi tập thú đi chơi
một mình, mơ mộng một mình. Những ngày mưa tầm tã, bầu trời thảm đạm,
một mình một áo mưa đi lang thang, gió đánh rát cả da mặt, mặt nước sông
Hương mù mịt nước. Chân đạp trên bao lá khô. Tất cả như mù mịt hết. Dòng
sông, nhịp cầu, trường học, những ngôi nhà che kín trong khu vườn rộng, tất
cả nhòe nhoẹt trong mưa hết. Tôi cười lại Ki, tôi làm gì có những phút thoát
trần như thế.
Tôi cũng phải nhắc tới tình yêu trong thành phố đó cho Ki nghe nữa.
Những hoàng tử áo xanh, những công chúa áo vàng ngày thứ Hai đầu tuần.
Những lá thư tình viết thả rơi. Những cái liếc mắt sau vành nón… Một mối
tình như một cơn giông bão từ phương nào ồ ạt đến. Thơ mộng, lãng mạn,
đau đớn sung sướng, nước mắt, thôi thì đủ cả. Có lúc nào Ki đứng đằng sau
tôi, trước mặt tôi nhìn tôi lúc đó không? Tôi có đáng được sung sướng đau
khổ như thế không? Và Ki ơi, Ki có biết được ngày tôi bỏ Huế?
Lúc lên máy bay, chuyến đi đầu tiên để bỏ thêm một phần hồn thân yêu
của mình nữa. Có cô gái che vành nón liếc ánh mắt tiễn đưa. Nhưng tôi đã
bay rồi. Tôi bay để làm một chuyến đi cách xa Ki thêm mãi, và cách xa cô
gái kia mãi mãi.
Từ đó tôi ít khi nghĩ tới thành phố đó lắm. Tôi lăn vào đời, tôi đẻ ra những
tuổi thơ, tôi nhìn những tuổi thơ đó lớn lên, tôi nuôi tuổi thơ con cái, nhìn
tuổi thơ đó như nhìn Ki hồi nhỏ. Nhưng Huế thì như một cái bóng thật mờ
lấp ló đằng sau cuộc đời mình, đôi lúc cho lại tôi vài phút êm đềm, nhưng
cũng hiếm hoi lắm.
Tôi không còn thì giờ để nhớ tới đàn cá mặt trăng trong chiếc hồ nhỏ lẻ loi
giữa rừng dương. Tôi quên khuấy mất những hột keo khô rơi lấm tấm đầy
trên con đường làng cát bẩn. Tôi quên ánh nắng mặt trời trên bãi cát hung
vàng mái tóc Ki. Có nhiều lúc nhìn nụ cười con thơ, nhìn chúng tò mò coi
một chú gián bò trong góc nhà, tôi nghe tiếng ai hỏi trong đầu: Nhớ tôi
không? Nhớ bầy đom đóm nơi đường rầy không? Nhớ cây khế nơi nhà ông
xếp ga không? Nhớ đàn cá mặt trăng không? Ki ơi, tệ quá, nào tôi còn nhớ gì
nổi.
Ki tha thứ cho tôi nhé. Đừng giận bởi vì đã có lúc tôi nhớ ra Ki rõ lắm,
nhớ như mình nhớ mình thì làm sao không rõ ràng được. Đó là lần tôi về Huế
để gặp mặt lần cuối ba của tôi. Quên, ba của Ki và tôi chứ. Lúc khóc lóc đã
mệt, vật vã đã rừ hết tay chân, tôi bất chợt nhìn ra kẽ hở của song cửa. Một
bụi cây Ki ơi. Từ một bụi cây dẫn tôi ra một đường phố, một đường phố dẫn
ra một trường học, một khu vườn. Chúng rủ tôi đi xa nữa, một bãi biển, một
mặt hồ đầy cá mặt trăng, một khu vườn sầm uất của Trấn Hải Đài ở Thuận
An nữa. Tôi nhìn thấy Ki đi trên bờ thành luỹ. Tôi nhìn thấy Ki ngã từ trên
nhánh ổi xuống và ba chạy tới vội vã bế Ki lên. Tôi còn thấy chiếc sân rộng
trong khu Trấn Hải Đài ngày ba ngồi thắt cho Ki hai chiếc gióng mây và
chuốt cho Ki cái đòn gánh tre để Ki giả đò đi gánh nước. Nhiều nơi nữa,
trong sân ở một ngôi nhà ở An Cựu, ba bế Ki ngồi lên lòng và hai chân ba
rung rung. Cả chiếc xe đạp cũ kỹ mà ba thường đặt cái gối bông nhỏ đằng sau
bót ba ga, bắt Ki ngồi ôm lưng thật chặt để ba thả xe chạy xuống con dốc
Nam Giao đi sang phố mua cho con búp bê nhỏ. Nhưng hình ảnh đó cũng
chớp nhanh lắm để trả tôi với bụi cây trước mắt. Những lá xanh đang thẫm
màu dần nhưng còn bám vài tia nắng yếu ớt của ngày cuối năm. Huế mình
như thế đó, cuối năm bao giờ mặt trời cũng muốn lười biếng, cũng nhõng
nhẽo đến rơi nước mắt. Ki đang đứng đằng sau lưng tôi, đang đứng trong hồn
tôi để giúp tôi trào thêm những giọt lệ.
Ba bỏ đi rồi, mất biệt rồi, đứt luôn cả sợi dây tơ đang mỏng dần giữa tôi
và Ki. Vậy là hết.
Phải, đã hết thực rồi, Ki ạ. Bây giờ tôi đứng trước Huế, nhìn Huế với một
con mắt khác, một tâm hồn khác. Mấy ngày liền tôi đã thấy sợi dây tơ mềm
cột chặt tôi với Huế đã đứt lìa hẳn. Nhưng lạ lùng thay, đôi lúc tôi vẫn còn
thấy Ki che mặt, giận dỗi, khóc lóc, rên rỉ vật vã ở trong tôi. Có phải tiếng
khóc cuối cùng của tôi thương tiếc người cha, hay tiếng khóc của Ki đau đớn
vĩnh biệt, một phần hồn tách lìa một thân xác để đi biền biệt mãi.
Tôi giơ tay chào Ki và từ giã luôn nhé.
Không Ki ơi, tôi đã lầm ghê lắm. Lầm lớn lắm. Đúng tôi vẫn còn nhìn
thấy Ki, đúng Ki là một phần hồn thuỷ chung duy nhất còn ở lại trong tôi, với
tôi trong những giờ phút mà chính tôi cũng không còn sự sáng suốt để dẫn
dắt mình nữa. Tôi đã chạy loạn cùng khắp, và chính trong những giờ phút tôi
mê muội nhất thì tôi lại nghe tiếng kêu của Ki. Con đường này, chiếc cầu
này, khu vực này. Tôi chạy tới, chạy lui và tiếng kêu dẫn đường cho tôi tìm
thấy lối sống.
Đúng là Ki thật rồi. Nhìn thấy Ki tất tả trong đám trẻ con chạy loạn, nhìn
thấy Ki bên những cánh tay khúc chân thịt non còn bê bết máu. Nhìn thấy
một phần thân thể Ki nơi chiếc miệng rỏ đầy giãi của con chó đang quắp đuôi
chạy trong đám bụi mù, trong ánh lửa đạn. Tôi nhìn ra Ki tức là đã nhìn ra
Huế. Trong bao năm tôi tưởng như tôi đã chôn vùi hình ảnh Ki cùng xứ Huế
với những ngày thơ, với lăng tẩm đền đài đằng sau đời sống mới ở một xứ
khác. Tôi lầm phải không Ki. Trong một tháng chạy loạn, có lần tôi đã tưởng
Huế của chúng ta đã hết, đã tan nát, đã bị vùi chôn. Đã hết khi tôi bưng kín
mắt, nằm ép trong góc tối của khu nhà trong cung An Định. Khi tôi chạy
băng qua cầu An Cựu mà không nhìn thấy cây bông búp. Nhưng không, tôi
vẫn thấy trên những đống gạch to lớn chưa từng thấy của thành phố, hình ảnh
của Ki ngày nào bé bỏng non thơ đi lang thang trên đó. Hình ảnh của Ki trôi
trên những đợt mây xám, len lén trong ánh sáng hẩm hiu của bầu trời lất phất
mưa để đi thăm những đổ vỡ, những mảnh tường xâm mình với bao thứ bom
đạn.
Tôi còn nhìn thấy Ki nhiều lần nữa. Chẳng hạn như một hôm sau mười
mấy ngày nằm trong hầm tối, vừa chui lên miệng hầm, không khí mát lạnh
làm tôi tỉnh người. Và những bóng lá xanh mướt ve vãn trước mắt tôi, một
bụi cây, một nhánh cỏ mà làm cho người ta yêu đời biết bao nhiêu. Trí tưởng
tượng của tôi như đang ngợp hết cả vùng trời, tôi nhìn thấy Ki tung tăng
trong ánh nắng vàng của dĩ vãng, ánh nắng đó còn bám lại trên mái ngói của
trường Đồng Khánh, của những bức tường đã và đang sụp đổ. Tôi thấy Ki
đứng tần ngần bên cạnh ông Tám thợ may, ông già râu dài đến rốn ngày xưa
cho Ki cục đường, bây giờ nằm chết cong queo bên đường mười mấy ngày
chưa được chôn cất. Ki cũng còn đứng bên những ngôi mộ của một số bạn bè
cũ đã lớn lên, Ki đang đứng cùng tuổi thơ của họ xung quanh ngôi mộ đắp
vội vàng, cùng với bầu trời mưa phùn nhỏ những giọt lệ không đủ làm ướt áo.
Mi Ki thân mến,
Ki thấy không, chúng ta thật đã có quá nhiều chuyện để nói với nhau về
Huế. Nhưng chưa hết đâu Ki, tôi còn một chuyện nữa phải nhắc lại với Ki.
Chuyện con heo khổng lồ trong tuổi thơ của mình ấy mà. Ki còn nhớ chứ?
Thật chuyện của mình răng mà lộn xộn quá đi, nhưng tôi chắc là Ki sẽ phải
reo vui, khi tôi còn nhớ và nhắc tới con heo khổng lồ ấy. Đã có một dạo,
trong những lần tha thẩn với Huế, chúng ta đã không thể nào không dừng lại
trước một căn nhà lá nghèo nàn trên Lích Đợi, giữa con đường đi nghẹo lên
Tây Thiên. Ki đã nhớ ra rồi phải không? Con heo của ông già lười biếng ấy
mà. Chúng ta đã cùng nhau đặt tên cho ông cụ là "ông già lười biếng", vì chả
bao giờ thấy cụ mần ăn chi hết… Buồn cười quá Ki nhỉ. Lúc nào mình ghé lại
cũng thấy ông cụ ngồi bên cái ấm nước chè lá với mấy cái ly nhựa. Hình như
suốt ngày ông cụ chỉ cố gắng nấu được nồi nước chè lá thật ngon để mời
những người khách đến thăm con heo kỳ dị ấy. Tội nghiệp Ki biết bao, dạo
ấy, Ki nhỏ chút, khi đứng trước cái chuồng heo to lớn chiếm hết nửa căn nhà.
Còn heo thì thôi, nó to như một con bò, nằm chình ình hết hai phần ba cái
chuồng, lông to cứng tủa ra như rễ tre, những túi thịt vĩ đại xệ xuống, khiến
chúng ta đã cố tìm mà không thấy hai mắt nó ở đâu. Con heo cũng đã quá già,
không còn đủ sức đứng dậy, suốt ngày cứ nằm rệp trên đống rác rưởi dơ dáy
của chính nó.
Người ta tới thăm con heo khổng lồ này cũng đông lắm, và cứ mỗi lần có
khách ông già lười biếng này lại khoe khoang:
"Con heo ni tui đợi tới khi mô hoà bình mới làm thịt ăn mừng!"
Ông già nói xong lại nhướng đôi mắt hấp hem lên nhìn trời. Con heo
khổng lồ của ông già vì rứa, còn được gọi bằng "con heo hoà bình" nữa. Hồi
đó, cái tên này đã làm Ki ngạc nhiên. Tại sao lại phải đợi hoà bình. Mà hoà
bình là cái gì thế nhỉ? Huế hiền lành của chúng ta có ai đánh đấm gì đâu mà
phải đợi hoà bình?
Ki ơi, đến bây giờ thì chắc Ki đã hiểu tại sao ông già lười biếng của chúng
ta lại chờ đợi rồi chứ? Nhưng dù Ki có hiểu hay không, chúng ta đã chẳng thể
biết nổi trong những ngày khốn khổ hồi Tết Mậu thân vừa rồi, ông già và con
heo hoà bình có còn không? Mà nếu còn, cũng liệu có đủ sức để mà chờ đợi
thêm nữa không?
Những câu hỏi răng nghe buồn hả Ki. Nhưng Ki cũng đừng trách tôi nhé.
Khi tôi ngồi viết những dòng này cho Ki thì Huế của chúng ta còn đang được
nói đến nhiều lắm, với những hầm hố chôn những, những xác thịt rữa nát
được tìm thấy bỏ vô hàng trăm bao ny lông xếp cao như núi. Tôi ở nơi xa,
nghe tin nào Bãi Dâu, nào các lăng tẩm, nào Phú Thứ, những hầm xác tập thể
đã được quật lên, rồi những tiếng khóc khổ đau ngày nào lại được dịp oà vỡ
lại. Tôi đã không có mặt với Huế trong những ngày tháng này, để cùng tìm
kiếm với thành phố những người thân thích đã bị bắn, bị chôn. Ở xa xôi, tôi
chỉ còn cách tìm lại với Ki, với tuổi thơ ấu của mình, vì Ki, hình ảnh đã được
Huế nuôi dưỡng từ thuở bé thơ, hẳn Ki còn ở mãi với Huế. Hãy tiếp tục khóc
với Huế, sống với Huế thay tôi, Ki nhé.
Tội nghiệp Ki quá. Nhưng chưa hết đâu, Ki còn phải thay tôi lắng nghe
tiếng cỏ đang cựa mình mọc lên trong đất đai câm nín của Huế, thay tôi góp
hết sức sống còn lại của chúng ta vào Huế cho một mùa phục sinh mới Huế
của chúng ta, của những người đã chết vùi chết dập và những người còn sống
sót, thế nào rồi cũng phải phục sinh, phải thức dậy.
Làm thế nào được, phải không Ki? Sức sống của nhân loại vẫn mãnh liệt
lắm. Như tôi đã mạnh mẽ vươn lên khỏi tuổi thơ ấu, bỏ Ki lại chơ vơ với
những kỷ niệm của thành phố. Sức sống của Huế cũng vậy, Ki còn nhớ
không? Ngày tôi sắp xa rời Ki, chúng ta đã cùng chụp chung một tấm hình
với các bạn. Bức hình ba đứa với Kim Hường, Tâm Tuý, khuôn mặt Ki ở
giữa. Người ta nói chụp hình ba đứa xui lắm. Thật rứa Ki ạ. Đã quá lâu rồi,
ba đứa trong tấm hình ngày nào không còn dịp gặp nhau lại, nhưng Ki biết
sao không, bữa kia, tôi đã vừa nghe người ta báo tin Tâm Tuý không còn nữa.
Theo lời kể lại, hồi Tết Mậu Thân vừa rồi, Tuý sửa soạn về bên chồng.
Trước tết, Tuý cắt tóc ngắn, đánh móng tay, rạo rực với bao nhiêu dự định.
Sáng mồng Một Tết, Tuý còn mặc áo đẹp, nhởn nhơ mừng năm mới. Nhưng
chỉ hôm sau, sáng mùng Hai Tết, Tuý đã bị bắt, rồi bị chôn trong khu vườn
ngay khi hoa mai còn đang nở.
Sau này, khi những người thân sống sót trở về đào xác Tuý lên, Ki tưởng
tượng được không, dù bị vùi xuống không hòm không chiếu, thể xác Tuý
không những vẫn nguyên vẹn, mà mái tóc Tuý, móng chân móng tay của Tuý
còn mọc dài hơn ra. Ki ơi, có thể thật rứa không Ki. Mà thật rứa, thì mần răng
giải thích, ngoài điều tôi đã nói với Ki: sức sống của con người vốn mãnh liệt
lắm.
Phải chăng, khi bị vùi xuống đất giữa lúc còn rạo rực sống, dù tim đã
ngừng đập, ngực đã ngừng thở, giữa lòng đất đen lạnh, cô bạn nhỏ của chúng
ta, Tâm Tuý, vẫn còn cố gắng trải thêm chút sức sống mà cái chết hối hả
không kịp dập tắt, để thể xác còn tiếp tục nở thêm.
Mi Ki thân mến,
Ki thấy đó, như Tâm Tuý, như bao nhiêu người khác, Huế của chúng ta,
dù bị vùi dập và tàn phá, vẫn nhất định hồi sinh, nhất định thức dậy, như cỏ
nhất định phải mọc trên mặt đất.
Hãy chịu đựng nhé, Huế. Nhưng đừng quên chờ đợi, hy vọng. Giữa những
xương trắng vừa được bới đào lên, giữa những đám tang tập thể, giữa đêm tối
chưa ngớt kinh hoàng vì những trận đánh lớn quanh quẩn đe doạ, Ki nghe
thấy không, lời hứa phục sinh của Huế vẫn nhất định chưa tắt, Ki tin tôi đi,
trong lòng tôi, ngay lúc còn đi giữa máu me đổ nát của Huế vẫn còn giữ được
nguyên biết bao kỷ niệm mà ngày nào, đôi chân ngắn ngủi của chúng ta đã
từng bước tới.
Dù sao Ki ơi, những buổi chiều gió nổi trên mặt sông Hương gợn sóng
bạc, những buổi sáng mùa hạ rực rỡ trong Thành Nội, những ngày mưa mù
mịt hàng cây sầu đông sau trường Đồng Khánh, hay những cơn giông thịnh
nộ, cũng vẫn còn trở lại.
Tôi xin gửi về Ki, về Huế, tập truyện nhỏ này, như những tình ca được
viết riêng cho Huế và quê hương đổ nát.
Mong rằng những tình ca vụn vặt, đầy nước mắt ấy, sẽ góp thêm phần nào
vào việc lay gọi Huế thức giấc, để những tình ca khác sẽ tiếp tục, thơ mộng
hơn, tươi sáng hơn.
Mi Ki ơi,
Ki đã làm tôi cảm động quá. Sống mãi giùm tôi với Huế nhé, Ki nhé.
Sài Gòn, 4.1969
2
Giọt nắng về trời
Chuyến máy bay đưa tôi trở về Huế đáp xuống phi trường Phú Bài đúng
12 giờ 30. Giờ Ngọ. Giờ này đúng là tuổi của đứa con trai tôi, và cũng là tuổi
của người cha thân yêu, lúc này, đang nằm hấp hối trên giường bịnh.
Khi bước xuống sân bay, đứng chơ vơ đón những đám cát bụi do những
chiếc quạt máy bay khác quạt tới, tôi cúi xuống nhìn chiếc bóng của mình
ngắn ngủi nhú khỏi hai chân bằng một gang ngắn, lúc đó, hình như có một
hình ảnh nào đó êm đềm vừa trôi qua trong tôi, lúc tôi kịp nhắm mắt để tránh
những hạt cát đang quật vào mắt mũi. Một lời van xin đã bật ra trong đầu óc.
Tôi mở choàng mắt, những vạt nắng nấp sau những đám mây lam, thật
thấp, chiếu xuống những tia vàng úa, buồn não. Cầu xin một sự yên lành. Ba
ơi, chắc gì còn kịp. Chân tôi bước như muốn ríu lại, cuối cùng, tôi cũng qua
hết chiếc sân rộng, vào dãy nhà đợi.
Buổi tối hôm trước, tôi đang còn ở thành phố Sài Gòn. Lâu lắm rồi tôi
chưa về lại Huế. Nhiều dịp Tết trôi qua, lần nào cũng tự hứa sẽ trở về, nhưng
những dịp tự hứa đó cũng bị những lười biếng, buông thả xoá mất hết. Lúc
này thì không thể không trở về được. Tấm điện tín đến vào lúc 11 giờ đêm.
Lúc đó tôi đang đưa ông Táo.
Tối 23 tháng chạp, không hiểu sao chỉ có lễ đưa ông Táo, tôi đã diện như
đi một dạ hội. Áo dài đỏ chót, tóc tai chải đàng hoàng. Khi tôi mặc chiếc áo
đỏ, người giúp việc đã buông một câu: Cúng ông Táo mà chị mặc cái áo đỏ
chói. Tôi cười: Biết đâu sẽ hết dịp mặc. Lời nói của tôi linh ứng ngay lúc đó.
Chỉ một phút sau, tôi nhận được điện tín từ Huế đánh vào. Về ngay, ba đang
hấp hối. Đang hấp hối? Cái gì mà kỳ cục vậy. Lá thư ba tôi viết từ tuần trước
còn rành rành nơi ngăn tủ. Con nhớ về ăn Tết, chúng con phải về, ba đã rời
bệnh viện. Chúng tôi đã mua vé cho cả gia đình, sẽ về Huế vào ngày mồng
Hai. Lâu lắm tôi mới trở lại Huế, và lần này, cả đoàn vợ chồng con cái lần
đầu tiên trở về trình diện cái quê hương mà tôi vừa thương yêu vừa thù ghét.
Không thể chờ đợi thêm được nữa. Em phải về trước, bằng mọi cách. Chồng
tôi nói thế. Và sáng hôm sau, tôi đã theo một chuyến máy bay quân sự để trở
về đây. Chiếc áo đỏ còn lung linh trong trí nhớ tôi như một nỗi kinh hoàng.
Chiếc áo đỏ này cũng đã được xếp ngăn nắp cất kín.
Tôi theo một xe hơi đi đón người nhà lên thành phố. Không đủ sức chờ
đợi chuyến xe đưa hành khách được nữa. Tôi muốn tức khắc có mặt ở nhà lúc
này. May ra còn kịp, nhất định phải kịp. Ba không thể đi một chuyến đi dài
mà không nhìn kịp mặt con. Phải thế.
Mấy năm rồi, tôi không trở về, những lá thư ba viết thật dài và những lá
thư trả lời ngắn ngủi không đủ để nói gì hết. Lời nói thú tội của tôi đang còn
chờ một dịp. Lần này, cầu mong cho con về kịp, và con sẽ nói, nói hết với ba.
Không, tôi cũng chả cần phải nói gì, ba tôi cũng đã hiểu hết. Những ngày bỏ
Huế dài bằng những lỗi lầm của tôi mà gia đình gánh chịu. Chiếc xe chạy qua
những thửa ruộng nhỏ, phía xa là những rặng núi dài, con đường tráng nhựa
ngày xưa nay đã cũ và đầy những ổ gà. Cảnh vật không có gì thay đổi hết.
Tôi tựa vào thành xe nghe tiếng tim mình đập rộn rã, tiếng rộn rã của một
nỗi mừng cùng một nỗi khắc khoải chờ đợi. Bầu trời xám xịt, những ánh
nắng vàng quái đồng tình với tôi về một nỗi quạnh hiu và những đám mây
buồn như muốn chảy nước. Tôi lờ mờ hình dung hình ảnh ba tôi với nhiều
khuôn mặt, nhưng hình ảnh nào cũng vội biến đi rất nhanh để nhường lại cho
một đôi mắt đã hết tinh thần đang cố bám những làn hơi chờ đợi.
Xe qua một vài xóm nhỏ tới một thửa ruộng, cảnh vật không có gì đổi
thay nhưng tôi không còn nhớ gì hết. Khi xe qua một con cầu, tôi mới thảng
thốt rối rít xin dừng lại. An Cựu ở phía đằng sau lưng mất rồi. Tôi gọi chiếc
xích lô và đi ngược trở lại. Tôi ôm mớ hành lý lên lòng, hành lý chả có gì cho
một chuyến đi xa, tất cả được gói gọn bỏ trong cái túi nhỏ. Tối hôm trước,
khi hay tin, tôi đã cầm tấm điện tín, ngồi trong màn mà khóc. Tất cả cái gói
nhỏ này do chồng tôi xếp cho. Em cứ về, mồng Hai anh sẽ ra và đến sau. Anh
sẽ cố gắng thu xếp công việc, đổi vé sớm hơn.
Cho tới lúc này, tôi vẫn không tin tưởng gì về sự có thể đổi vé được. Xe đi
qua một đồn lính đến một ngã ba, rồi chạy thẳng xuống theo con lộ số 1. Tôi
đưa tay ra dấu, xe chạy vào một con ngõ được chắn lại bằng một cánh cửa sắt
khép hờ. Tôi nhảy lên từ trên xích lô xuống chạy một mạch từ ngõ qua
khoảng sân và đứng sững lại giữa nhà. Nhiều tiếng gọi tên tôi cùng bật ra một
lúc. Đứa em gái của tôi chạy ra sân, người phu xe đang tần ngần đợi ở đó.
Cả nhà đang ngồi quanh mâm cơm, nhưng chả ai ăn được miếng nào, tôi
ngửi, thấy mùi canh cải cúc quen thuộc, vì một làn hơi mỏng bay lên từ tô
canh, bên những chén cơm để nguội ngắt. Mẹ tôi đứng dậy trước tiên, hai tay
bà đưa ra đằng trước. Nỗi mừng vừa chiếu một tia sáng nhỏ ở đôi mắt đã che
khuất bởi làn lệ mỏng: Con ơi, ba con đợi con về kia, ba con nằm ở trong
phòng kia. Nhiều tiếng khóc nổi lên. Cái túi nhỏ nơi tay tôi bỗng rơi xuống
đất. Tôi khoát tấm màn nhỏ thay cánh cửa ngăn phòng, bước vào. Chân tôi cơ
hồ muốn lướt trên mặt đất.
Tất cả những hình ảnh tôi tưởng tượng về ba tôi đã hoàn toàn sai lệch. Ba
tôi bây giờ chỉ còn như bộ xương người. Khuôn mặt choắt lại, hai gò má nhô
cao, hai mắt nửa khép nửa mở. Cả khuôn mặt đó cùng mớ tóc chưa kịp bạc
hết, chải lật đằng sau được đặt trên chiếc gối cao. Nếu không còn nghe được
tiếng thở nhẹ, đôi khi khò khè, tôi không thể tin ba tôi còn đang ở giữa lưng
chừng sự sống và sự chết. Sự có mặt của tôi càng làm cho gia đình tôi mủi
lòng, xung quanh tôi đầy cả tiếng khóc.
Tôi đứng sững một giây và rồi như một sự vỡ oà không kịp gượng, chân
tôi khuỵu xuống, mặt tôi đã úp gọn vào bàn tay cứng ngắt của ba tôi. Ba ơi,
con đã trở về nhưng cả ba cả con, không ai còn kịp nghe nhau nói nữa. Tôi
tưởng khi gục xuống bàn tay của ba tôi, tôi sẽ khóc ghê gớm lắm, và ít nhất
tiếng khóc đó cũng giúp tôi vơi bớt được nỗi buồn khổ đau đớn trong lòng.
Như đêm qua tôi cũng đã khóc, như khi ngồi trên máy bay, tôi cũng đã khóc,
và sau đó tôi tỉnh táo lại.
Lần này cớ chi sự đau đớn của tôi không trào ra bằng mắt. Không, ba tôi
còn sống, ba tôi còn nằm kia, da thịt còn nóng. Ai kêu giùm tôi một bác sĩ, ai
gọi giùm tôi một chiếc xe đi. Làm cách nào để cứu ba tôi sống lại chứ. Tại
sao mẹ tôi chú tôi chỉ biết cuống quít chờ đợi ba tôi chết và khóc lóc thế kia.
Tôi đứng bật dậy. Má ơi, ba chưa chết, kêu giùm con bác sĩ đi chú ơi. Tiếng
khóc của người đàn ông không làm ai mủi lòng như vậy mà chú tôi đang
khóc như một đứa bé.
Tôi giậm chân, tôi quay quắt. Tôi đứng bật dậy. Làm ơn gọi bác sĩ giùm
tôi, ba tôi đang chống chọi kìa. Nhưng không ai trả lời tôi hết, những tiếng
khóc thút thít làm đầu óc tôi như muốn nổi điên lên. Cái chết nào có dễ dàng
đến như thế. Con ơi, con đừng có la lối nữa, không kịp nữa đâu, bác sĩ chạy
rồi. Bác sĩ chạy rồi, bao nhiêu sự hung hăng của tôi nhờ lời nói của chú tôi
đập nát hết. Lúc này tôi nhìn rõ ba tôi hơn. Lưỡi ông đã trụt, hai mắt đã lạc
hết tinh thần. Ba tôi đang mặc một cái áo ka ki nhà binh, nơi tay còn đeo
đồng hồ và phía trên đầu có đặt cái radio nhỏ.
Chú tôi nói: Chiều qua, ba còn đưa tay vặn máy ra, lại đeo được đồng hồ.
Đến nửa đêm hai tay mới tê liệt hẳn. Ba có nói gì nữa không? Má tôi vừa
khóc vừa trả lời: Ba gọi tên con, tên anh con, rồi im luôn cho tới giờ. Má tôi
nói xong cầm chén sâm, rỏ vào miệng ba tôi mấy giọt, ba tôi nấc lên, và hai
hàm răng đập lại, chứng cớ còn nuốt được. Nhưng tới giọt sâm thứ hai thì
miệng ba tôi không còn động đậy gì nữa. Lúc này tôi mới nhớ tới anh tôi, má
tôi giải thích cho biết là anh ấy đã đi trình diện nhập ngũ, đã đánh tới mười
mấy cái điện tín nhưng chưa thấy về.
"Ông ơi, con nó về đây, con nó về mà ông bỏ nó ông đi sao đành ông ơi".
Tiếng kêu của má tôi như một tiếng xé lòng. Tôi gục mặt vào ngực ba tôi,
bao nhiêu sự cố gắng của tôi đã cùng bật ra một lúc bằng tiếng kêu nhỏ: "Ba
ơi". Rồi tôi không khóc, nhưng nước mắt tôi đã chảy giàn giụa. Và khi tôi
nhìn vào khuôn mặt ba tôi, thì lạ lùng thay, nơi hai khóe mắt đã dừng tròng
của ba tôi, lăn ra hai dòngg lệ nhỏ. Ba đã nhận ra con, ba đã biết con trở về.
Ba ơi. Nhưng làm thế nào cho ba đừng chết.
Không còn hy vọng gì nữa hết. Môi ba tôi đã khô dần và nơi trán đã rịn ra
những giọt mồ hôi cùng những giọt lệ tiếp tục chảy dài hai khóe mắt.
Tất cả các cánh cửa sổ được mở ra một lúc. Ánh sáng lùa vào lê lết trên
khuôn mặt tái ngắt của ba tôi. Nhưng ánh sáng đó, hắt hiu dần vì những đám
mây mỗi lúc một đặc. Em gái tôi nói đóng cửa lại, sợ ba tôi nhiễm gió lạnh,
nhưng chú tôi nghẹn ngào: Để vậy cho sáng sủa, ba thích sáng sủa để ba nhìn
vườn cây của ba trồng.
Nhiều người tới thăm đang đứng ở nhà ngoài, má tôi dẫn vào, họ đứng yên
lặng một lát rồi đi ra, ai ai cũng có bộ mặt phiền não. Ngoài vườn, gió chiều
đang bắt đầu xao động trên các lá cây, ánh sáng thật mỏng manh yếu ớt, lung
linh từng giọt trên lá. Trên tấm chăn trắng đắp trên người ba tôi, phía chếch
nơi bụng, một vệt nắng dài đang u buồn đậu trên đó. Tôi ngồi ghé vào một
bên giường, lần này, tôi không còn đủ lý do gì để quay quắt được nữa.
Ba tôi nằm đó, đầy sự yên tĩnh, những giọt nước mắt cùng mồ hôi trên
trán đã được lau khô và hơi thở ba tôi điều hoà như đang chìm vào giấc ngủ
không mộng mị. Vệt nắng cứ chạy lui dần xuống phía chân ba tôi và hao mòn
mãi cho tới lúc chỉ còn một giọt nhỏ.
Tôi đưa tay sờ ngực ba tôi...
 





